PHÂN TÍCH – BÌNH LUẬN

 

26/03/2020

CIVICUS: CÁC QUỐC GIA NÊN ĐẶT NHÂN QUYỀN LÀ TRỌNG TÂM TRONG NHỮNG PHẢN ỨNG ĐỐI VỚI COVID-19

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/03/CIVICUS-COVID-19-PIC.png?resize=760%2C217&ssl=1

Ngày 24 tháng 3 vừa qua, tổ chức nhân quyền phi chính phủ CIVICUS (World Alliance for Citizen Participation: Liên minh Thế giới vì Sự tham gia của Công dân) đã đăng tải một thông cáo báo chí trên trang web chính thức của mình. Thông báo này thể hiện sự lo ngại trước việc một số quốc gia đang lợi dụng đại dịch toàn cầu Covid-19 để áp đặt một cách có chủ đích các biện pháp nhằm thu hẹp các quyền tự do dân sự của công dân.

Đặc biệt, thông cáo cũng đề cập đến tình trạng của hàng ngàn tù nhân chính trị, những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền trên khắp thế giới đang bị giam cầm trong những điều kiện tồi tệ sẽ đối mặt với nguy cơ cao bị lây nhiễm, một số khuyến nghị đối với các nước cũng đã được tổ chức này đưa ra trong thông cáo.

Thông cáo báo chí của CIVICUS được đăng tải công khai tại địa chỉ: https://www.civicus.org/index.php/media-resources/media-releases/4357-civicus-states-should-put-human-rights-at-the-centre-of-all-responses-to-covid-19

Nhà xuất bản Tự Do đã dịch bản thông cáo báo chí này sang tiếng Việt và xin giới thiệu bản dịch đến đông đảo độc giả Việt Nam.

**

CIVICUS: CÁC QUỐC GIA NÊN ĐẶT NHÂN QUYỀN LÀ TRỌNG TÂM TRONG NHỮNG PHẢN ỨNG ĐỐI VỚI COVID-19

• Trong suốt đại dịch toàn cầu COVID-19, các quốc gia không nên coi luật khẩn cấp là cái cớ để hạn chế các quyền công dân.
• Những người bảo vệ nhân quyền và tù nhân chính trị nên được thả ra để hạn chế sự lây lan.
• Các chính phủ nên minh bạch trong việc đối phó với các mối đe dọa từ COVID-19 .
• CIVICUS kêu gọi các nước nên dỡ bỏ các biện pháp khẩn cấp ngay khi các mối đe dọa của virus giảm đi.

Khi cộng đồng quốc tế đang tiếp tục thực hiện các biện pháp để ngăn chặn sự lây lan của COVID-19 và tiến tới việc tiêu diệt nó, thì các quốc gia cần đảm bảo rằng việc bảo vệ quyền con người phải là trọng tâm trong mọi động thái.

Vào tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tuyên bố rằng sự bùng phát của virus COVID-19 đã đạt đến mức độ của một đại dịch toàn cầu. WHO đã yêu cầu tất cả các chính phủ phải có hành động cần thiết để ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh này.

Tuy nhiên, một điều thường thấy trong các trường hợp khẩn cấp khác, đó là một số quốc gia đã dùng các cuộc khủng hoảng để hạn chế các quyền tự do dân sự. Điều này được một số chính phủ dùng để biện minh cho các hành động của mình và duy trì chúng ngay cả khi các mối đe dọa về sức khỏe đã kết thúc. Các quốc gia phản ứng với sự lây lan của virus COVID-19 phải đảm bảo rằng các tiêu chuẩn và luật nhân quyền quốc tế phải được xem là trọng tâm trong các phản ứng của họ đối với đại dịch.

Trong khi sự tập trung chú ý của cộng đồng quốc tế trong những tháng tới sẽ hướng đến đại dịch, thì các quốc gia có thể sẽ nhân cơ hội này để gia tăng các cuộc tấn công vào xã hội dân sự và áp đặt những biện pháp hạn chế.

Các quốc gia nên có các biện pháp chủ động để đảm bảo rằng các tổ chức xã hội dân sự và các nhóm dễ bị tổn thương sẽ được bảo vệ đầy đủ. Tại Trung Quốc, các nhà hoạt động đã bị quấy rối và đe dọa chỉ vì chia sẻ thông tin về virus trong khi các báo cáo đã bị kiểm duyệt. Tại những khu vực khác của châu Á, luật pháp đang được sử dụng để đàn áp và bắt giữ những người bị cho là truyền bá thông tin sai sự thật về virus.

Là một căn bệnh truyền nhiễm, vì vậy virus COVID-19 có nguy cơ lây lan cao trong những không gian kín như nhà tù, đồn cảnh sát hay các trại giam. Tình trạng quá tải do đông đúc, dinh dưỡng kém hay không được tiếp cận với vệ sinh đúng cách sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm cho các tù nhân. Các quốc gia có nghĩa vụ phải phóng thích những người bảo vệ nhân quyền và tù nhân chính trị khỏi các nhà tù như một nỗ lực kiềm chế sự lây lan của dịch bệnh.

Trong khi một số tù nhân trong nhà tù ở Iran đã nhiễm virus. Chúng tôi ghi nhận một nỗ lực đáng khen ngợi của chính quyền Iran vì đã tạm thời trả tự do cho 85.000 tù nhân, các nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền – những người bị xem là tội phạm chỉ vì họ bảo vệ quyền của phụ nữ và người chưa thành niên. Các nước có lịch sử giam cầm những người bảo vệ nhân quyền và các thành viên của các phe chính trị đối lập như Ai Cập, Việt Nam và Cameroon, nên thực hiện tương tự.

Những tuyên bố về tình trạng khẩn cấp vì lý do sức khỏe và an ninh phải được thực hiện phù hợp với luật pháp: các nước không nên áp dụng luật khẩn cấp như một cái cớ để hạn chế quyền công dân, hoặc nhắm vào các nhóm, các cộng đồng thiểu số hay các cá nhân cụ thể. Luật khẩn cấp không nên được áp dụng để bịt miệng những người bảo vệ nhân quyền, chúng phải được dỡ bỏ ngay khi các mối đe dọa từ virus giảm đi. Hơn nữa, các nhóm xã hội dân sự nên được hỏi ý kiến nếu có thể.

Tất cả những người bị ảnh hưởng, đặc biệt là các nhóm bị thiệt thòi và các nhóm xã hội dân sự làm việc với họ, phải đều có quyền tiếp cận những thông tin liên quan đến tính chất và mức độ của các mối đe dọa do virus gây ra. Họ cũng nên có thông tin kịp thời về các cách để hạn chế rủi ro. Việc mạng Internet bị hạn chế hoặc ngừng hoạt động ở các quốc gia như Myanmar, Ấn Độ và Ethiopia đang đặt hàng ngàn người vào tình trạng có thể gặp rủi ro.

Liên quan đến vấn đề này, CIVICUS kêu gọi các quốc gia:

• Phối hợp với các phương tiện truyền thông và xã hội dân sự để minh bạch trong việc đối phó với các mối đe dọa do COVID-19 gây ra. Xử lý thông tin sai sự thật mọi lúc mà không cần dựa vào kiểm duyệt hay xử phạt hình sự.

• Ngưng ngay việc dùng COVID-19 như một cái cớ để áp đặt các hạn chế đối với xã hội dân sự, nhắm vào các mục tiêu là những người bảo vệ nhân quyền hoặc hạn chế các quyền tự do trên không gian mạng.

• Trả tự do cho tất cả những người bảo vệ nhân quyền và các tù nhân chính trị bị cầm tù chỉ vì các hoạt động nhân quyền của họ, hoặc bày tỏ quan điểm trái ngược với quan điểm của nhà nước.

• Dỡ bỏ các luật khẩn cấp và các biện pháp tạm thời được áp dụng để hạn chế sự lây lan của virus, ngay khi các mối đe dọa này giảm bớt.

• Đảm bảo duy trì việc truy cập Internet mà không bị cản trở, chấm dứt ngay mọi hành động can thiệp có chủ đích đối với quyền tiếp cận và chia sẻ thông tin.

 



 

08/03/2020

ĐẨY LÙI NHỮNG RANH GIỚI: SỰ TRỖI DẬY CỦA HÌNH THỨC TỰ XUẤT BẢN TẠI VIỆT NAM.

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/11/WhatsApp-Image-2019-10-31-at-22.32.03-1.jpeg?resize=400%2C300&ssl=1

 

 

Nhà xuất bản Tự do xuất bản và phân phối những quyển sách mà chính quyền Việt Nam không muốn người dân đọc.

Bên trong một căn phòng chật chội và tạm bợ ở một địa điểm bí mật tại miền bắc Việt Nam, một chiếc máy in đang làm việc hết công suất cho ra những trang giấy được phủ đầy chữ. Từng cọc giấy được xếp chồng lên nhau một cách gọn gàng trên những chiếc bàn gần đó, một người đàn ông đeo mặt nạ loại phòng độc đặt một trong các cọc giấy vào máy cắt và bắt đầu đóng chúng vào các trang bìa.

“Phòng bị ẩm ướt khiến cho chất lượng giấy in không tốt” – một biên tập viên của Nhà xuất bản Tự Do nói khi ông lật một cuốn sách mới in.

Tại Việt Nam, cũng như Liên Xô cũ trước đây, những ấn phẩm như vậy được gọi là Samizdat – sao chép và phân phối sách bất hợp pháp, điều mà chính quyền nghiêm cấm và bị xem là “hoạt động chống lại nhà nước”. Theo Điều 117 Bộ luật hình sự Việt Nam, bất kỳ ai liên quan đến Samizdat đều có nguy cơ bị phạt tù lên đến 20 năm.

Nhà xuất bản Tự Do được thành lập vào tháng 2 năm ngoái tại thành phố Hồ Chí Minh bởi một nhóm các nhà bất đồng chính kiến như một thách thức trực tiếp đối với sự kiểm soát của chính quyền trong lĩnh vực xuất bản. Đồng thời, đưa các tác phẩm được viết bởi chính những nhà bất đồng chính kiến Việt Nam đến tay các độc giả trong nước.

“Mọi cơ sở in ấn ở Việt Nam đều bị chính quyền kiểm soát. Chúng tôi phải mua máy in riêng để thực hiện một cách bí mật”, Trần Hà, sáng lập viên của Nhà xuất bản Tự Do, người đã yêu cầu chúng tôi sử dụng bí danh để bảo vệ danh tính.

Ngay sau khi thành lập, nhà xuất bản được chuyển từ thành phố lớn nhất của Việt Nam đến một địa điểm không được tiết lộ, do phải chịu áp lực từ việc liên tục bị lực lượng công an quấy nhiễu và cố gắng bắt giữ các thành viên của nhà xuất bản.

"Chúng tôi không thể ở bất cứ đâu trong một thời gian dài, công việc của chúng tôi có thể bị tiết lộ. Nếu chúng tôi bị phát hiện ra ngay cả cộng đồng cũng sẽ gặp rủi ro", Hà nói thêm.

'Nguy hiểm và tai hại'

Chính quyền từ lâu đã kiểm duyệt và kiểm soát các ngành công nghiệp truyền thông và xuất bản, áp đặt các hạn chế khắt khe đối với những lĩnh vực này.

Luật xuất bản nghiêm cấm "tuyên truyền chống lại Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", "truyền bá tư tưởng phản động" và "tiết lộ bí mật của Đảng (Cộng sản), Nhà nước, quân đội, quốc phòng, kinh tế, hoặc quan hệ đối ngoại."

Nhà xuất bản Tự do đã xuất bản 11 đầu sách của tám tác giả trong năm qua về các chủ đề nhạy cảm về chính trị bao gồm vai trò của Trung Quốc tại Việt Nam và luật pháp gây tranh cãi về các Đặc khu kinh tế. Họ cũng đã phát hành một cuốn sổ tay pháp lý cho các nhà hoạt động bị bỏ tù.

Đây là Samizdat đầu tiên tại Việt Nam ra mắt trang web và trang Facebook.

"Chúng tôi có hàng chục ngàn độc giả mặc dù công an thì đàn áp và Nhà nước thì kiểm duyệt", Hà nói. "Nhiều người trong số họ là Đảng viên của Đảng Cộng sản."

Mặc dù không có cách nào để xác minh những tuyên bố này, nhưng vào tháng 10, chính quyền Việt Nam đã đàn áp Nhà xuất bản Tự do, mạng lưới phân phối và những độc giả của họ.

Vào tháng 11, Tổ chức Ân xá Quốc tế và Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã đưa ra một tuyên bố chung kêu gọi chấm dứt sự đe dọa và quấy rối đối với những người liên quan đến các hoạt động của nhà xuất bản hoặc những người cố gắng để có được các bản sao của các cuốn sách do nhà xuất bản này phát hành.

Theo nhóm phụ trách các chiến dịch về Việt Nam của Tổ chức Ân xá Quốc tế, công an đã thẩm vấn gần 100 người vì sở hữu hoặc đọc sách được in bởi Nhà xuất bản Tự do.

"Họ biết mức độ nguy hiểm và tai hại (của tự xuất bản) đối với chế độ của họ", Trịnh Hữu Long, một nhà hoạt động dân chủ và đồng sáng lập của tổ chức Sáng kiến Pháp lý Việt Nam nói.

"Bằng cách in sách, họ có thể làm cho thông tin độc lập trở nên chuyên nghiệp và hợp pháp đối với độc giả. Nếu đọc giả có thể cầm nó trong tay, họ sẽ tin tưởng nó hơn. Nó sẽ trở nên có giá trị."

Mạng lưới bí mật

Đi dọc các con đường sách nổi tiếng ở thành phố Hồ Chí Minh hoặc Hà Nội, rất dễ tìm mua các bản sao của văn học phương Tây và Việt Nam bị chính quyền cấm kể từ khi thống nhất đất nước vào năm 1975. Trong khi một số sách bất hợp pháp được nhập lậu vào nước này, hầu hết đều được sao chụp từ những bản sách gốc.

Nhưng việc tìm sách Samizdat do chính các tác giả Việt Nam viết tại Việt Nam rất khó khăn nên các nhà hoạt động về tự do báo chí đã bắt đầu một mạng lưới hỗ trợ để giúp Nhà xuất bản Tự do hoạt động.

Những người ủng hộ giúp vận chuyển sách trong nước. Các độc giả trên khắp Việt Nam đặt hàng và họ cũng là người quyết định địa điểm nhận những cuốn sách được giao bởi những người lái xe ôm – nó giống như đặt mua thức ăn trên mạng.

"Rất nhiều trong số những người vận chuyển sách của chúng tôi đã bị mắc bẫy bởi công an giả vờ là độc giả mua sách. Họ đặt mua sách trực tuyến từ chúng tôi, sau đó họ yêu cầu thời gian và địa điểm giao hàng,” Hà nói.

"Chúng tôi đã có hai nhân viên bị bắt và một trong số đó bị buộc phải thú nhận.”

Nhà xuất bản Tự Do đã bắt đầu phân phối các phiên bản sách điện tử của những quyển phổ biến nhất của họ để giúp trả chi phí liên quan đến việc xuất bản các bản sách in.

“Đẩy lùi những ranh giới”

Nguyễn Quang A, 73 tuổi, người đã thách thức sự kiểm duyệt của Nhà nước bằng “Tủ Sách SOS2” của ông trong 20 năm. Ông đã xuất bản hàng chục quyển sách bị cấm dưới dạng in và sách điện tử, đó chính là nguồn cảm hứng cho hoạt động Samizdat của Nhà xuất bản Tự do.

"Tôi đã từ bỏ việc in sách giấy", ông Quang A nói. "Mục tiêu của tôi không phải là trở thành một anh hùng chiến đấu chống lại hệ thống kiểm duyệt. Mà nó chỉ đơn giản là thảo luận các ý tưởng."

Hà cho biết những phản hồi mà độc giả Việt Nam dành cho Nhà xuất bản Tự do phản ánh thực trạng người dân đang khát thông tin và họ muốn biết nhiều hơn về các chính sách công ở Việt Nam.

"Tôi nghĩ Nhà xuất bản Tự do đang vượt qua những ranh giới", Đinh Thảo, một nhà hoạt động 28 tuổi đang sống tại Hà Nội nói. "Trước đây, các nhà xuất bản (Samizdat) muốn in sách dịch, nhưng bây giờ họ xuất bản những sách của các tác giả Việt Nam trong nước. Đây là những loại sách mà tôi muốn đọc."

“Nhà nước cảnh sát” và “Phản kháng phi bạo lực” là các ấn phẩm bán chạy nhất được viết bởi tác giả, nhà bất đồng chính kiến Phạm Đoan Trang đang được đặt trong xưởng in của Nhà xuất bản Tự Do.

Trong khi các cuộc biểu tình ở Hồng Kông đang bước vào tháng thứ tám, thì những quyển sách bằng tiếng Việt về chủ đề này lại rất khan hiếm. Nhà xuất bản Tự do tiếp theo sẽ phát hành những ấn phẩm làm nổi bật các cuộc biểu tình chống Trung Quốc ở Hongkong hay những cuộc biểu tình tương tự từng diễn ra tại Việt Nam vào tháng 6 năm 2018 – được xem là lần biểu tình lớn nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam.

"Rất nhiều độc giả Việt Nam thể hiện sự quan tâm về các cuộc biểu tình ở Hồng Kông," ông Nguyễn nói. "Độc giả của chúng tôi đến từ một số khu vực xa xôi và nghèo nhất của đất nước."

--- Nhà xuất bản Tự Do dịch từ bài báo “‘Pushing boundaries’: The rise of Samizdat publishing in Vietnam” của tác giả Adam Bemma đăng trên tờ Al Jazeera News ngày 14/01/2020 ---

https://www.aljazeera.com/news/2020/01/pushing-boundaries-rise-samizdat-publishing-vietnam-200113071848863.html

 


23/01/2020

TRANG FACEBOOK TIẾNG ARAB “TẤT CẢ CHÚNG TA LÀ KHALED SAID” ĐÃ GÓP PHẦN THÚC ĐẨY CUỘC CÁCH MẠNG AI CẬP NHƯ THẾ NÀO (phần cuối)

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/c24a25d9-e691-4fe3-a72a-6b7aea8b4108.jpg?resize=350%2C350&ssl=1

Nguồn ảnh: https://facebook.com/alshaheeed.co.uk

Kara Alaimo

An Nguyên biên dịch

Tóm tắt: Bài báo này phân tích cách mà người chủ trang Facebook tiếng Arab “Tất cả chúng ta là Khaled Said” đã kích thích cũng như tận dụng các cơ hội thuận lợi mà môi trường chính trị Ai Cập mang lại để thúc đẩy cuộc cách mạng năm 2011 như thế nào. Bằng việc phân tích nội dung của các bài đăng trên trang Facebook trước và trong cách mạng, nghiên cứu cho thấy người chủ trang, Wael Ghonim, đóng vai trò như một người đào tạo/hướng dẫn dài hạn, giáo dục những người theo dõi online của mình về sự lạm dụng quyền lực của chế độ Mubarak và giúp họ dần trở nên quen thuộc với các hoạt động chính trị tích cực hơn, để khi có sự kiện kích hoạt nổ ra – Cách mạng Tunisia – thì có thể huy động những người theo dõi của mình xuống đường biểu tình. Nghiên cứu này cho thấy vai trò quan trọng của truyền thông xã hội trong việc thúc đẩy thay đổi xã hội cũng như cung cấp các bài học hữu ích cho các nhà hoạt động chính trị.

 

KẾT LUẬN

Nghiên cứu này cung cấp cho chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về cách chính xác mà truyền thông xã hội đã được sử dụng để thúc đẩy cuộc biểu tình mà cuối cùng dẫn đến lật đổ chế độ Mubarak. Rõ ràng Ghonim đã làm việc trong một thời gian dài để giáo dục người Ai Cập về sai trái và kém cỏi của chính quyền, cũng như từ từ giúp người dân trở nên quen thuộc với một mức độ tham gia chính trị sâu rộng hơn. Ông đã tận dụng một câu chuyện rất quyền lực – câu chuyện về cái chết kinh hoàng của Khaled Said  –  để làm thay đổi người dân Ai Cập. Đến khi thời cơ chính trị phù hợp, thông qua việc khẳng định rằng họ có thể tạo ra sự khác biệt, ông đã huy động được người dân Ai Cập xuống đường.

Nghiên cứu này đề nghị ba bài học về cách mà các nhà hoạt động chính trị có thể làm để kích thích sự thay đổi xã hội:

- Thứ nhất, các nhân vật của công chúng cần tìm một cách tiếp cận từ từ để người dân quen dần với thông tin và ý tưởng mới (cấp tiến).

- Thứ hai, các nhà hoạt động cần phải là những người quan sát chính trị tinh tế để nhận biết “các sự kiện kích hoạt”, từ đó có thể tận dụng chúng. Các câu chuyện quyền lực, như cái chết của Khaled Said, là đặc biệt hữu hiệu, dù điều thật sự mang người dân Ai Cập xuống đường là sự lật đổ nhà lãnh đạo ở Tunisia.

- Thứ ba, thông điệp cần thuyết phục người dân rằng mỗi người trong số họ có thể tạo ra sự khác biệt.

****

Chúng ta có thể thấy, câu chuyện bi thảm của Khaled Said có rất nhiều nét tương đồng với câu chuyện bi thảm về cái chết của cụ Kình ở Đồng Tâm. Cái chết của cụ Kình đã gây nên một làn sóng phẫn nộ lớn và rộng khắp trong dân chúng. Rất nhiều người trước đây bàng quang với các vấn đề xã hội thì nay đã bày tỏ thái độ phẫn nộ một cách công khai.

Và cũng giống như cách xử lý sự việc của chính quyền Mubarak vào năm 2010, chính quyền Cộng sản Việt Nam cũng tỏ ra cực kỳ lúng túng khi xử lý sự việc. Họ hoàn toàn thất bại trong việc bưng bít, ngăn chặn thông tin. Bởi vì, Việt Nam đã có những facebooker quá can trường, những người sẵn sàng hy sinh bản thân để cung cấp sự thật đến công luận. Và những hình ảnh đau thương từ Đồng Tâm đã có tác động mạnh đến lương tri con người, thức tỉnh rất nhiều người.

Chính quyền đã phải rất vất vả, rất chật vật để chạy theo truyền thông mạng xã hội, họ liên tục phải thay đổi câu chuyện, thay đổi kịch bản do chính họ đưa ra. Càng cố gắng, họ càng phơi bày, càng bộc lộ rõ bộ mặt thật của họ cho dân chúng đánh giá. Và sự kiện họ khóa tài khoản nhận phúng điếu cụ Kình một lần nữa lại làm bùng lên sự phẫn nộ. Khi sự phẫn nộ làm con người vượt qua được cái ngưỡng của sự sợ hãi thì họ hoàn toàn có đủ sức mạnh để tạo nên sự thay đổi.

Các cuộc cách mạng thường vẫn bắt đầu từ những đốm lửa. Khi những đốm lửa lan dần, lan dần và bùng lên thì sức nóng của nó khó lòng dập tắt được. Đã đến lúc, chính quyền Việt Nam phải đáng giá lại vai trò và mức độ ảnh hưởng của họ, phải thay đổi cách hành xử của họ nếu không muốn nhận cái kết cục giống Maburak, Gaddafi hay những tên độc tài sắt máu khác.

 


 

23/01/2020

TRANG FACEBOOK TIẾNG ARAB “TẤT CẢ CHÚNG TA LÀ KHALED SAID” ĐÃ GÓP PHẦN THÚC ĐẨY CUỘC CÁCH MẠNG AI CẬP NHƯ THẾ NÀO (PHẦN 5)

 

Nguồn ảnh:www.flickr.com – gamal_inphotos

Kara Alaimo

An Nguyên biên dịch

Tóm tắt: Bài báo này phân tích cách mà người chủ trang Facebook tiếng Arab “Tất cả chúng ta là Khaled Said” đã kích thích cũng như tận dụng các cơ hội thuận lợi mà môi trường chính trị Ai Cập mang lại để thúc đẩy cuộc cách mạng năm 2011 như thế nào. Bằng việc phân tích nội dung của các bài đăng trên trang Facebook trước và trong cách mạng, nghiên cứu cho thấy người chủ trang, Wael Ghonim, đóng vai trò như một người đào tạo/hướng dẫn dài hạn, giáo dục những người theo dõi online của mình về sự lạm dụng quyền lực của chế độ Mubarak và giúp họ dần trở nên quen thuộc với các hoạt động chính trị tích cực hơn, để khi có sự kiện kích hoạt nổ ra – Cách mạng Tunisia – thì có thể huy động những người theo dõi của mình xuống đường biểu tình. Nghiên cứu này cho thấy vai trò quan trọng của truyền thông xã hội trong việc thúc đẩy thay đổi xã hội cũng như cung cấp các bài học hữu ích cho các nhà hoạt động chính trị.

Tác động

Dĩ nhiên, chúng ta không thể biết liệu cuộc cách mạng Ai Cập có xảy ra không nếu không có trang Facebook này. Rõ ràng, nhiều trong số những áp lực, vốn thúc đẩy cuộc cách mạng ở Tunisia – bao gồm sự đàn áp chính trị, sự thất nghiệp của giới trẻ, nghèo đói, bất bình đẳng, sự kiểm duyệt truyền thông, sự tàn bạo của cánh sát, cũng như các sự kiện mang tính biểu tượng như cái chết của một thanh niên trẻ trong tay lực lượng cảnh sát – cũng hiện diện ở Ai Cập. Cuộc cách mạng đã không và cũng không thể xảy ra mà không có lý do. Và đây là lý do tại sao khi thảo luận về các nguyên nhân kích hoạt, Pierson (2004) lưu ý cần phải xem xét cẩn thận “tiến trình tích lũy từ từ những bức xúc, cũng như khả năng tiến trình này đã đạt đến mức, mà khi có một sự kích hoạt, cách mạng sẽ xảy ra.”

Thực tế là, Ghonim nằm trong số những người thúc đẩy hàng đầu cho các cuộc biểu tình từ ngày 25 tháng 1, và đóng góp của ông cho cách mạng thể hiện ở vai trò lãnh đạo về mặt tư tưởng của ông. Đồng thời, điều lật đổ chế độ Mubarak là sự tức giận và sự dũng cảm của người dân, những người đã được huy động xuống đường. Và cuối cùng, cách mạng đã đạt được trong thế giới thực, chứ không đơn thuần trong thế giới ảo. Ngoài ra, Ghonim không chỉ dựa vào truyền thông xã hội mà còn vào các chiến thuật tổ chức theo kiểu truyền thống, như đưa ra các thông cáo báo chí về các cuộc huy động sắp tới cũng như tổ chức các cuộc biểu tình trong thực tế. Do vậy, trong một chừng mực nào đó, trang Facebook này đóng vai trò xúc tác cho cuộc cách mạng. Không những chỉ đưa ra đề nghị người dân Ai Cập tham gia biểu tình vào ngày 25 tháng 1, mà còn giúp cấp tiến hóa những người theo dõi, cũng như chính danh hóa sự bất mãn thông qua sự phát triển của trang. Từ một diễn đàn dành cho người dân quan tâm về tình trạng lạm dụng của cảnh sát, hay đơn giản chỉ là tò mò về cái chết kinh hoàng của Said, trang đã trở thành một nơi tích cực khích động sự tức giận chống lại chế độ Mubarak và cuối cùng dẫn đến việc xuống đường biểu tình.

THẢO LUẬN

Từ vai trò của Ghonim ở trên cung cấp cho chúng ta một số bài học cho các nhà hoạt động online.

– Thứ nhất, khoa học về nhận thức cho thấy rằng con người bị tác động rất mạnh bởi các câu chuyện cá nhân. Câu chuyện của Said trở thành một công cụ quyền lực mang người Ai Cập lại với nhau, vì một lý tưởng chung, giúp xây dựng một lượng lớn người theo dõi cho trang Facebook của Ghonim.

– Thứ hai, nghiên cứu cũng chỉ ra phong cách lãnh đạo của Ghonim, một người đào tạo/hướng dẫn dài hạn. Ghonim từ từ đào tạo cho những người theo dõi mình trở nên quen thuộc với một mức độ bất mãn cao hơn, để khi các điều kiện cách mạng trở nên chín muồi, thì ông có một nhóm người theo dõi đã được chuẩn bị về mặt tư tưởng để có thể tham gia xuống đường. Một điểm đặc biệt của truyền thông xã hội được sử dụng trong tiến trình làm quen dần cho những người theo dõi trang “Tất cả chúng ta là Khaled Said” là việc ẩn danh. Trái với việc có mặt trong các cuộc biểu tình đường phố, các cá nhân có thể đọc các bài viết trên truyền thông xã hội trong khi ẩn danh và do đó trách được sự đàn áp của chính quyền. Ngoài ra, một điều quan trọng nữa là các cá nhân có thể tham gia các thảo luận trên Facebook với tên giả.

– Cuối cùng, khi mọi người thấy những người khác tham gia thảo luận trên trang mà không bị sao, điều này khiến cho sẽ có thêm nhiều người Ai Cập cảm thấy an toàn khi làm như vậy. Sự phổ biến ngày càng tăng của trang này cũng như các công cụ truyền thông xã hội khác đã giúp đóng góp tạo ra “thác thông tin”’ khi người dân Ai Cập cuối cùng nhận ra rằng nếu họ biểu tình trên đường phố, thì người khác cũng làm như vậy, và cứ như thế. Truyền thông xã hội đã cung cấp một môi trường ít rủi ro hơn môi trường thực, qua đó cho phép cá nhân có những sự tham gia đầu tiên, vốn cần thiết trong việc kích hoạt một thác cách mạng xảy ra sau đó.

Kết quả cũng cho thấy khái niệm của King về sự cần thiết của sự kiện kích hoạt trong việc tạo ra sự thay đổi có thể áp dụng mọi nơi. Ban đầu, trang Facebook của Ghonim hầu như không thể kích động một cuộc cách mạng. Trong quyển sách của mình, chính Ghonim thừa nhận rằng trước khi sự kiện ở Tunisia diễn ra, thì “sự nhiệt huyết của tôi bắt đầu giảm dần.” Sự kiện này đã tác động như một cú hích khiến ông gia tăng mức độ tu từ và cấp tiến trên trang của mình. Điều này cũng cho thấy rằng một mình ý tưởng của nhà hoạt động online không đủ khiến nó trở nên quyền lực, mà còn phải đúng thời điểm nữa.

Tu từ mà Ghonim sử dụng cũng cho thấy tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự lạc quan cũng như  thuyết phục mọi người về sức mạnh của chính họ. Các nhà khoa học thần kinh cũng chỉ ra rằng khả năng thực hiện hành động sẽ cao hơn khi con người biết rằng hành vi của mình có thể tạo ra sự khác biệt.

Một số sự kiện bên ngoài khác cũng đóng góp cho sự thành công của cuộc cách mạng. Chẳng hạn, không như chế độ Syria, phần lớn lực lượng an ninh Ai Cập không chống lại người dân – điều mà như các học giả trước đó nhận xét, chủ yếu là do người Ai Cập sử dụng truyền thông xã hội để ghi lại sự kiện. Ngoài ra, lý do mà cuối cùng người Ai Cập đã bước xuống đường phố không chỉ bởi Ghonim khuyến khích họ làm như vậy, mà bởi chế độ Mubarak khiến họ trở nên hết sức giận giữ.

(còn tiếp)



 


 

22/01/2020

TRANG FACEBOOK TIẾNG ARAB “TẤT CẢ CHÚNG TA LÀ KHALED SAID” ĐÃ GÓP PHẦN THÚC ĐẨY CUỘC CÁCH MẠNG AI CẬP NHƯ THẾ NÀO (PHẦN 4)

 

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/83098494_1090576707987936_6062376544808992768_n.jpg?resize=400%2C300&ssl=1

 

Nguồn ảnh: http://www.ahram.org.eg

 

Kara Alaimo

An Nguyên biên dịch

Tóm tắt: Bài báo này phân tích cách mà người chủ trang Facebook tiếng Arab “Tất cả chúng ta là Khaled Said” đã kích thích cũng như tận dụng các cơ hội thuận lợi mà môi trường chính trị Ai Cập mang lại để thúc đẩy cuộc cách mạng năm 2011 như thế nào. Bằng việc phân tích nội dung của các bài đăng trên trang Facebook trước và trong cách mạng, nghiên cứu cho thấy người chủ trang, Wael Ghonim, đóng vai trò như một người đào tạo/hướng dẫn dài hạn, giáo dục những người theo dõi online của mình về sự lạm dụng quyền lực của chế độ Mubarak và giúp họ dần trở nên quen thuộc với các hoạt động chính trị tích cực hơn, để khi có sự kiện kích hoạt nổ ra – Cách mạng Tunisia – thì có thể huy động những người theo dõi của mình xuống đường biểu tình. Nghiên cứu này cho thấy vai trò quan trọng của truyền thông xã hội trong việc thúc đẩy thay đổi xã hội cũng như cung cấp các bài học hữu ích cho các nhà hoạt động chính trị.

KẾT QUẢ

Phản hồi:

Trong khi nội dung các bài đăng đều rất xuất sắc, thì các bình luận của những người theo dõi thường có phần hạn chế. Các bài viết của Ghonim thể hiện được sự phẫn nộ cũng như những ý tưởng hành động. Trái lại, bình luận của những người theo dõi đơn giản là bày tỏ sự ủng hộ cho cách mạng, dù với sự nhiệt tình, song thiếu sự biện minh dựa trên lý thuyết, bằng chứng, kinh nghiệm hay những đề nghị mới mẻ.

Phản hồi phổ biến nhất đối với bài đăng vào ngày 14 tháng 1 là kêu gọi chấm dứt chế độ. Các ví dụ điển hình như phản hồi của Nagwa Soliman: “hạ bệ, hạ bệ, sự cai trị của quân đội”; hay phản hồi của Abdelmagued: “hạ bệ cùng với tướng tá quân đội.” Nhìn chung hầu hết các phản hồi đòi kết thức sự cai trị của quân đội, sử dụng từ “hạ bệ” mà không có viện dẫn hay giải thích nhiều hơn.

Những dạng phản hồi phổ biến khác như phản hồi ca ngợi sự tử vị đạo của Kaled Kalil Elseniny “Vinh danh tất cả vinh danh … những người tử vì đạo”, phản hồi thể hiện hi vọng của Tiến sĩ Ali Mohammed Ali “Ước mơ sẽ không chấm dứt ….”, phản hồi đưa ra những sự kết tội bí ẩn như tổng thống Mubarak là một người của Israeli, phản hồi ca ngợi/kêu gọi Alla giúp đỡ của Salma Soly “Đó là ý muốn của Thượng đế, và tất cả chúng ta sẽ hoàn thành cuộc cách mạng của mình”, hay phản hồi bày tỏ sự lạc quan của Manal Mnola “cuộc cách mạng vĩ đại và Thượng đế sẽ giúp sức”. Hầu như 100 bình luận được nghiên cứu rơi vào các nhóm này.

Những phản hồi được khảo sát này không cho thấy được chiến lược, chiến thuật nhằm mang lại thành công cho sự huy động. Phản hồi liên quan nhất với công tác hậu cần là của Hisham Adel, hỏi liệu có bất cứ yêu cầu nào với người tham gia tuần hành hay không, và không thấy có đề nghị nào được đưa ra; và phản hồi liên quan nhất đến việc thúc đẩy một nghị trình chính trị là của Mahmoud Anwar, kêu gọi “Wael Ghonim làm tổng thống.”

Nhìn chung các phản hồi đối với bài viết của Ghonim khá tương tự, giống như một điệp khúc ủng hộ cho ý tưởng của chủ page hơn là những phân tích mang tính phê phán đối với chế độ hay đưa ra các chiến lược/chiến thuật tổ chức các cuộc biểu tình chống lại nó.

Phong cách lãnh đạo:

Trong khi lúc đầu trang tập chung vào cái chết của Said và sự tàn bạo của cảnh sát, thì sau đó do tác động của cuộc cách mạng xảy ra ở Tunisia, nó trở nên cấp tiến hơn. Ghonim (2012) viết rằng trước thời điểm cách mạng, “việc đề cập đến Mubarak trên trang bị cấm.” Nhưng ngay khi Ben Ali bị lật đổ và chạy khỏi Tunisia, điều này không còn phải e dè nữa. Bài viết đầu tiên của ông tấn công trực diện vào chế độ Mubarak với một bức hình của Mubarak cùng cựu tổng thống Tunisia Ben Ali, với tựa đề “các bạn dẫn dắt và chúng tôi sẽ theo sau.”

Rõ ràng, trang bắt đầu với một sự tiếp cận tương đối ôn hòa, một điều khiến cho những người dân chưa quen với hoạt động phản kháng, cảm thấy dễ chịu và an toàn. Sau đó mới dần đi đến khuyến khích các thành viên tham gia nhiều hơn vào các hoạt động nhắm đến chế độ Mubarak. Trong thực tế, ban đầu trang tránh các hoạt động đường phố bởi Ghonim thấy các nhà hoạt động đã tổ chức một cuộc biểu tình nhưng tương đối ít người tham gia. Vì vậy, ông nói, “thay vào đó chúng tôi chọn những hoạt động online, để thúc đẩy một sự lạc quan và tin tưởng rằng chúng ta có thể tạo ra sự khác biệt, ngay cả chỉ trong thế giới ảo.” Các hoạt động như vậy bao gồm mời thành viên thay đổi hình nền Facebook của họ bằng hình của Said với lá cờ Ai Cập cũng như chụp hình họ để cho thấy rằng họ đang đọc “Tất cả chúng ta là Khaled Said.”

Sau đó, phong trào mới tiến xuống đường phố trong hình thức được tính toán sao cho không đe dọa chế độ. Những người theo dõi trang được khuyến khích tham gia vào hoạt động “đứng im lặng”. Trong hoạt động này, họ mặc quần áo màu đen và đứng cùng nhau ở nơi công cộng để thể hiện sự bất bình với việc giải quyết vấn đề của Said nói riêng cùng sự tàn bạo của cảnh sát nói chung. Tuy nhiên, các hoạt động như vậy không liên quan đến các yêu sách đối với chính phủ. Ngay như tên của sự kiện cũng cho thấy đó chỉ là ngôn ngữ diễn tả sự bất bình của người tham gia.

Bằng cách như vậy người chủ trang cố gắng từ từ thay đổi quan điểm và giá trị của người theo dõi, cũng như dần giúp họ trở nên cảm thấy thoải mái và chấp nhận những sự phản kháng chính trị cấp tiến hơn. Phong cách lãnh đạo của ông là phong cách của một người huấn luyện/hướng dẫn dài hạn. Nó rất chiến lược ở chỗ từ từ làm cho những người theo dõi trở nên quen và dần dần tham gia vào các hoạt động một cách tích cực hơn. Ghonim 2012 nhận xét rằng “thực tế việc chế độ không ngăn chặn (các hành động như vậy) đã khiến cho nhiều người tham gia hơn, và rào cản sợ hãi từ từ được hạ thấp xuống.” Như phân tích về ngôn ngữ của trang chỉ ra, những lời cổ vũ của Ghonim với những người theo dõi giúp họ vượt qua sự bi quan và cam chịu trong hàng thập kỷ dưới sự cai trị của Mubarak, và truyền bá niềm tin cho rằng họ có thể trở thành tác nhân cho sự thay đổi thực sự.

Cuộc cách mạng của Tunisa rõ ràng là điểm ngưỡng của trang, khi nó cung cấp một khung tham chiếu cho thấy khả năng thay đổi chế độ cũng như chính danh hóa việc tấn công trực tiếp vào chế độ của Mubarak. Vào ngày 14 tháng 1, khoảng một tháng sau vụ tự thiêu của Mohamed Buazizi vốn đã kích hoạt các cuộc biểu tình ở Tunisai, Ghonim đã đánh giá chính xác cơ hội chính trị ở Ai Cập. Lúc này ông đã dẫn dắt người theo dõi để cuối cùng huy động họ xuống đường chống lại chế độ của Mubarak.

(còn tiếp)

 

 

 

 

21/01/2020

 

TRANG FACEBOOK TIẾNG ARAB “TẤT CẢ CHÚNG TA LÀ KHALED SAID” ĐÃ GÓP PHẦN THÚC ĐẨY CUỘC CÁCH MẠNG AI CẬP NHƯ THẾ NÀO (PHẦN 3)

 

https://i2.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/Khalid-3.jpg?resize=350%2C350&ssl=1

 

Nguồn ảnh: www.flickr.com - Ron Rothbart

Kara Alaimo
An Nguyên biên dịch

Tóm tắt: Bài báo này phân tích cách mà người chủ trang Facebook tiếng Arab “Tất cả chúng ta là Khaled Said” đã kích thích cũng như tận dụng các cơ hội thuận lợi mà môi trường chính trị Ai Cập mang lại để thúc đẩy cuộc cách mạng năm 2011 như thế nào. Bằng việc phân tích nội dung của các bài đăng trên trang Facebook trước và trong cách mạng, nghiên cứu cho thấy người chủ trang, Wael Ghonim (tên ko đồng nhất), đóng vai trò như một người đào tạo/hướng dẫn dài hạn, giáo dục những người theo dõi online của mình về sự lạm dụng quyền lực của chế độ Mubarak và giúp họ dần trở nên quen thuộc với các hoạt động chính trị tích cực hơn, để khi có sự kiện kích hoạt nổ ra – Cách mạng Tunisia – thì có thể huy động những người theo dõi của mình xuống đường biểu tình. Nghiên cứu này cho thấy vai trò quan trọng của truyền thông xã hội trong việc thúc đẩy thay đổi xã hội cũng như cung cấp các bài học hữu ích cho các nhà hoạt động chính trị.

Vào ngày 11 tháng 2 năm 2011, chế độ cai trị độc tài kéo dài 30 năm của tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak đi đến hồi kết khi nó thông báo rằng ông sẽ từ chức sau 18 ngày biểu tình liên tục trên khắp các đường phố của người dân Ai Cập. Và có một sự thật ngày càng trở nên rõ ràng hơn không chỉ đối với truyền thông dòng chính mà còn đối với cả giới hàn lâm đó là truyền thông xã hội đã góp phần quan trọng vào thành công của cuộc cách mạng này. Trang Facebook “Tất cả chúng ta là Khaled Said”, và các trang của Nhóm Trẻ 6/4, Liên minh Quốc gia cho Sự thay đổi, Kefaya, và của nhà thuyết giáo Ai Cập Amr Khaled đã tích cực hỗ trợ cuộc biểu tình, khiến nó lên tới hàng triệu người. Trong hai tuần trước cũng như trong một số những ngày đầu của các cuộc biểu tình, có 32.000 nhóm và 14.000 trang Facebook được lập ra ở Ai Cập. Sau năm ngày bị ngắt kết nối, thì ngày mà Internet hoạt động trở lại, Facebook đã chứng kiến một số lượng lớn chưa từng thấy người sử dụng truy cập tại Ai Cập. Do đó, cách mạng đã mang đến cho chúng ta một cơ hội quan trọng trong việc nghiên cứu cách thức sử dụng truyền thông xã hội để thúc đẩy sự thành công trong việc thay đổi chế độ.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần khẳng định rằng một mình truyền thông xã hội thì không đủ để thúc đẩy sự thay đổi chế độ. Ví dụ điển hình chính là Iran, nước có số lượng người dùng Internet lớn nhất khu vực Trung Đông. Việc sử dụng truyền thông xã hội trong các cuộc biểu tình phản đối kết quả bầu cử vào năm 2009 đã không thành công trong việc lật đổ Mahmoud Ahmadinejad, khi ông tiếp tục cầm quyền cho đến năm 2013. Dù các cuộc biểu tình ở Iran cũng có sự hiện diện của các công cụ truyền thông xã hội, những công cụ vốn góp phần quan trọng trong thành công của các cuộc cách mạng ở Ai Cập và Tunisia. Họ cũng có một video mang tính biểu tượng về Neda Agha-Soltan, cô gái 26 tuổi, đã bị giết khi tham gia biểu tình. Tương tự trường hợp của Iran, việc sử dụng truyền thông xã hội để ghi lại các vi phạm nhân quyền thô bạo của chính quyền Syria chống lại người dân cũng đã không thể khiến chấm dứt sự cai trị của Bashar al-Assad. Điều này dẫn đến câu hỏi quan trọng, đâu là các yếu tố khiến cho cuộc cách mạng ở Ai Cập thành công, trong khi các cuộc biểu tình chống chế độ ở các nơi khác trong khu vực lại thất bại.

Nghiên cứu này tập trung phân tích trang Facebook “Tất cả chúng ta là Khaled Said” để xem nó đã góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng ở Ai Cập như thế nào. Dựa trên việc phân tích nội dung các bài đăng trên trang trước và trong các cuộc biểu tình vào hai tháng đầu năm 2011, chúng tôi thấy rằng thành công của trang trong việc thúc đẩy cuộc cách mạng phần lớn nằm ở cách mà người chủ trang tiếp cận với những người theo dõi thông qua việc hướng dẫn và giáo dục họ, từ từ giúp họ trở nên quen với các hình thức tham gia chính trị tích cực hơn. Đó là một sự chuẩn bị cần thiết cho việc huy động khi có một sự kiện kích hoạt nổ ra, và trong trường hợp này là cuộc cách mạng thành công ở Tunisia. Ngoài ra, thành công của trang còn nhờ vào cách mà nó sử dụng một câu truyện bi kịch với các tu từ đầy hùng hồn, thuyết phục người dân rằng họ có thể tạo ra sự khác biệt. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng cuộc cách mạng Ai Cập ít mang tính tự phát hơn so với niềm tin của nhiều người, đồng thời đưa ra các bài học quan trọng cho các nhà hoạt động những người đang tìm cách sử dụng truyền thông xã hội để thúc đẩy thay đổi chính trị và xã hội.

Tóm tắt các nghiên cứu trước đó
Từ khi Mùa Xuân Ả Rập xảy ra đến nay, có một số lượng lớn các nghiên cứu tập trung vào đóng góp của truyền thông xã hội cho các cuộc nổi dậy, và đi đến khẳng định tầm quan trọng của công cụ này.

Khi phân tích về vai trò của truyền thông xã hội trong cuộc cách mạng ở Tunisia và Ai Cập, Howard and Hussain (2011) đã xác định bốn giai đoạn của một cuộc cách mạng như sau:

- Giai đoạn đầu tiên – chuẩn bị – thể hiện ở việc “giới hoạt động sử dụng truyền thông xã hội một cách sáng tạo để tìm kiếm nhau, xây dựng tình đoàn kết chung quanh những sự bất bình, và xác định các mục tiêu chính trị tập thể.”

- Tiếp theo là giai đoạn kích hoạt, “liên quan đến một sự kiện mà truyền thông nhà nước lờ đi, nhưng được chú ý rộng rãi trên mạng xã hội và thu hút sự quan tâm của cộng đồng”. Trong trường hợp của Tunisia, sự kiện này là việc Mohamed Bouazizi, một thanh niên 26 tuổi bán hoa quả rong đã tự thiêu để phản đối việc quan chức địa phương tịch thu gánh hàng rong của mình. Còn ở Ai Cập, sự kiện kích hoạt lại là sự thành công của cuộc cách mạng tại Tunisia.

- Giai đoạn ba là các cuộc biểu tình đường phố, cùng với đó là sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

- Giai đoạn cuối cùng, ở cao điểm của các cuộc biểu tình, chế độ sụp đổ (thể hiện ở việc Mubarak từ chức).

Sự tức giận của người dân Ai Cập được thổi bùng bởi các hình ảnh của Khaled Said, người bị cảnh sát địa phương giết một tháng trước đó, như Howard and Hussain nhận xét:

Điều kích thích các cuộc biểu tình của người dân không chỉ đơn thuần do một hành động bạo lực của chế độ…. mà còn bởi sự phổ biến tin tức về sự phẫn lộ qua các mạng lưới gia đình, bạn bè và sau đó những người xa lạ đứng lên khi truyền thông nhà nước lờ đi câu chuyện.

Ngoài việc làm gia tăng sự tức giận, các học giả cũng thấy rằng truyền thông xã hội đã thúc đẩy người Ai Cập xuống đường. Theo lý thuyết về “thác thông tin”, nhiều người trong các quốc gia độc tài không hài lòng với chính quyền, nhưng bởi họ giữ những cảm xúc này trong lòng, nên mức độ bất mãn trong xã hội không thể ước lượng được. Cho đến khi một số người bắt đầu biểu tình, tạo ra một sự kích hoạt khiến một số lượng lớn những người khác cùng tham gia. Lynch (2011) cũng nhận xét là “theo quan điểm này, thì ảnh hưởng ngày càng tăng của các tiếng nói đối lập trên mạng xã hội sẽ giúp khuyến khích người dân, những người cũng có những sự bất mãn tương tự nhưng từ trước tới giờ vẫn giữ trong lòng, thì bây giờ sẵn sàng thể hiện công khai (thông qua việc tham gia biểu tình).”

Trong trường hợp Ai Cập, truyền thông xã hội được sử dụng để thúc đẩy người dân Ai Cập quan tâm đến những sự huy động đang diễn ra trên đường phố. Một nghiên cứu về các cuộc biểu tình ở Quảng trường Tahrir cho thấy 28.3% người khảo sát biết về biểu tình đầu tiên qua Facebook – nguồn thông tin phổ biến thứ hai, sau cách truyền tin trực tiếp mặt đối mặt với 48.4%; khoảng 52% người biểu tình có tài khoản Facebook, và hầu như tất cả sử dụng tài khoản của mình để truyền tin về các cuộc biểu tình.

Shirky (2008) cho rằng công nghệ truyền thông xã hội khiến cho việc chia sẻ thông tin trở nên dễ dàng hơn. Trong trường hợp của Ai Cập, ông nhận thấy trước cách mạng “những công cụ này cho phép người dân truyền tin mà không phải đối mặt với sự trì hoãn hay kiểm duyệt bởi các kênh tin tức chính thức…. cũng như điều phối các hành động phản kháng”. Ngoài ra, Shirky cũng thấy truyền thông xã hội giúp giảm bớt chi phí và khó khăn trong việc điều phối các nhóm lớn, qua đó khiến cho hành động tập thể trở nên dễ dàng hơn.

Gerbaudo (2012) gán vai trò lãnh đạo cho giới trẻ, những người dùng Facebook để thúc đẩy các cuộc biểu tình trên đường phố, cũng như huy động các tầng lớp thấp trong xã hội, vốn không dùng internet. Đồng thời, ông cũng nói thêm rằng những người nổi bật trên mạng xã hội trở thành lãnh đạo của các phong trào xã hội hiện đại. Trong khi Herrera (2014) thấy truyền thông xã hội được sử dụng trong cuộc cách mạng Ai Cập để truyền các “vemes – những ý tưởng mà sự ra đời, phát triển của nó xảy ra trong không gian ảo. Truyền thông xã hội là một máy sản xuất veme khổng lồ nơi mà các vemes lan truyền và tiến hóa giống như các cơ thể hữu cơ đang phát triển nhanh.” Herrera cho rằng sự thành công của trang “Tất cả chúng ta là Khaled Said” giúp kích động sự tức giận theo cách mà nó “lan truyền meme tử vì đạo thông qua kĩ thuật tiếp thị online hiện đại”.

Các học giả cũng tập trung vào vai trò của truyền thông xã hội trong việc ghi lại các cuộc biểu tình. Điều này đã khiến cho chính quyền gặp khó khăn hơn trong việc đàn áp, cũng như che đậy thông tin về những gì đang diễn ra trên đường phố. Một số người còn cho rằng lý do mà lực lượng an ninh Ai Cập không đàn áp người biểu tình là vì họ biết rằng mọi động thái của mình đều được ghi lại và có thể bị live stream cho cả thế giới thấy. Một điều khá nghịch lý, đó là các học giả thấy chính việc cắt Internet của chính quyền Ai Cập trong năm ngày, từ ngày 28 tháng 1 năm 2011, đã góp phần giúp sức cho phe đối lập. Bởi vì, khi “tầng lớp trung lưu Ai Cập không thể truy cập Internet tại nhà, họ đã đổ ra đường phố để tìm hiểu xem chuyện gì đang diễn ra.” Hơn một triệu người Ai Cập đã tham gia vào các cuộc biểu tình trên đường phố sau khi Internet bị cắt, tăng 10 lần so với trước đó. Việc cắt Internet cũng khiến cộng đồng quốc tế tức giận, bao gồm cả tổng thống Mỹ Barack Obama, người cam kết ủng hộ cho nhân quyền ở Ai Cập.

Các nghiên cứu về cách mạng cũng tập trung vào sự phát triển của công nghệ trước năm 2011, khi truyền thông xã hội ngày càng phổ biến hơn ở Ai Cập. Theo World Bank, tỉ lệ người Ai Cập tiếp cận Internet tăng từ chưa đến 1% vào năm 2000 lên tới 39,8% vào năm 2011. Howard and Hussain cũng nhận xét rằng, sau năm 2000, “việc đọc báo nước ngoài trực tuyến, nói chuyện với bạn bè và người thân ở nước ngoài đã trở thành một thói quen,” khiến cho người Ai Cập ngày càng ý thức hơn về những dạng chính quyền khác. Trong khi đó, số lượng blog ở Ai Cập cũng tăng chóng mặt, với chỉ 40 blog vào năm 2004, số lượng blog đã tăng lên đến 160.000 vào năm 2008. Điều này cho thấy nhu cầu cho sự tự biểu đạt ngày càng tăng.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy những giới hạn của việc sử dụng truyền thông xã hội cho cách mạng. Youmans and York (2012) lưu ý rằng các công cụ như Facebook không được thiết chế cho mục đích hoạt động xã hội, mà cho mục đích thương mại. Do vậy, nó có thể tạo ra những khó khăn cho nhà hoạt động. Chẳng hạn, nhằm bảo vệ cho sự an toàn cho mình, chủ trang Facebook “Tất cả chúng ta là Khaled Said” là Wael Ghonim, đã sử dụng một bí danh khi tạo ra trang này. Tuy nhiên, việc sử dụng bí danh lại vi phạm chính sách đòi hỏi người sử dụng phải tiết lộ tên thật trên Facebook. Vì vậy, Facebook đã vô hiệu hóa tài khoản này trong một thời gian (sau đó trang được mở trở lại). Ngoài ra bản thân nhà nước cũng sử dụng truyền thông xã hội để giám sát và đàn áp người hoạt động cũng như người dân.

Tất cả chúng ta là Khaled Said
Vào tháng 6 năm 2010, Ghonim, một nhân viên của Google đồng thời là một nhà hoạt động online, đã tạo ra trang Facebook tiếng Ả Rập có tên gọi “Tất cả chúng ta là Khaled Said” để phản kháng về cái chết của công dân Ai Cập 28 tuổi, Khaled Said. Trong cuốn sách của mình, Cuộc cách mạng 2.0, Ghonim miêu tả các bức ảnh về tử thi của Saide mà một người bạn của ông – Tiến sĩ Ayman Nour, một nhà hoạt động chính trị từng chạy đua cho chức vụ tổng thống – đăng trên Facebook như sau:

Đó là một bức ảnh kinh hoàng, trong đó khuôn mặt của một người đàn ông bị biến dạng hoàn toàn và đầy máu; môi dưới bị xé toạc một nửa, và quai hàm thì bị lệch; răng cửa thì không còn. Hình ảnh quá khủng khiếp đến nỗi tôi băn khoăn liệu có phải anh ấy đã bị thương trong chiến tranh, nhưng khi vào trang của Tiến sĩ Nour tôi biết rằng đó là Khaled Mohamed Said, người đã bị hai viên cảnh sát đánh tới chết vào ngày 6 tháng 6 ở Alexandria.
Sau đó, mẹ của Said nói rằng con trai bà bị giết bởi anh ấy đã đăng một video cho thấy cảnh sát địa phương đang chia nhau tiền và ma túy. Trái lại, Bộ nội vụ Ai Cập cho rằng Said chết vì ngạt sau khi nuốt một gói ma túy lớn – điều mà cả ba nhân chứng trực tiếp đều phủ nhận. Bộ này cũng nói rằng Said bán ma túy, sở hữu vũ khí, quấy rối tình dục và trốn nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, mẹ của Said đã phản bác lại cáo buộc cuối cùng bằng cách cho thấy một chứng nhận rằng Said đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc của mình.

Đối với Ghonim, cái chết của Said tượng trưng cho sự tàn bạo và phi nhân tính của lực lượng an ninh Ai Cập – mà người dân Ai Cập đang phải chịu đựng mỗi ngày. Do đó, ông đã tạo ra trang Facebook “Tất cả chúng ta là Khaled Said” để phản đối sự tàn bạo và tham nhũng của cảnh sát Ai Cập. Trang này sau đó trở thành trung tâm của các hoạt động trong các cuộc biểu tình chống Mubarak vào hai tháng đầu năm 2011. Sau khi Ghonim bị an ninh Ai Cập bỏ tù vào ngày 27 tháng 1 năm 2011, thì trang tiếp tục được điều hành bởi những người bạn hoạt động của ông.

Nghiên cứu:
Nghiên cứu này đánh giá một cách phê phán (tìm từ khác) tất cả các bài đăng trên trang “Tất cả chúng ta là Khaled Said” từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 – 25 ngày trước khi biểu tình bắt đầu – đến ngày 11 tháng 2, khi nó thông báo rằng tổng thống Mubarak sẽ từ chức. Dù trang được lập vào năm 2010, tuy nhiên, phân tích chỉ tập trung vào giai đoạn trên, bởi trong giai đoạn này, trang có vai trò xúc tác và duy trì các cuộc biểu tình đường phố từ ngày 25 tháng 1 đến ngày 11 tháng 2.

Mỗi bài đăng thu hút hàng ngàn lượt tương tác từ những người sử dụng Facebook. Để đánh giá bản chất của những tương tác này, nghiên cứu này lựa chọn một trong những bài đăng của trang và phân tích những bình luận với bài đăng đó. Đây là bài đăng của Ghonim vào ngày 14 tháng 1 năm 2011: “Hôm nay là ngày 14 …Ngày 25 tháng 1 là Ngày Cảnh sát và là một ngày nghỉ lễ của quốc gia … nếu 100.000 người đổ ra đường biểu tình, thì không ai có thể ngăn cản được chúng ta …. Tôi băn khoăn liệu các bạn có thể??” Dù Nhóm trẻ 6/4 là tổ chức đầu tiên kêu gọi biểu tình vào ngày 25 tháng 1 năm 2011, song lãnh đạo của Nhóm đã làm việc gần gũi với Ghonim để thúc đẩy sự kiện này trên Internet. Vào ngày 25 tháng 1, người Ai Cập thực sự đã đổ ra đường, tạo ra một cuộc biểu tình kéo dài 18 ngày, lên tới cực điểm với sự từ chức của tổng thống sau đó. Do đó, bài đăng này minh họa cho cách mà sự tương tác giữa người chủ trang và người theo dõi đóng góp cụ thể cho cách mạng như thế nào.

Kết quả:

Nội dung:

Khi phân tích các bài viết, thì điểm đặc biệt nổi bật nhất là sự phẫn uất của người dân sống dưới thời Mubarak, và tất cả đều nhất quán theo một định hướng chính trị cụ thể. Các chủ đề mang tính thực tế cao, tập trung vào các vấn đề như đói nghèo, sự tàn bạo của cảnh sát, tệ hối lộ, và sự gian dối của truyền thông nhà nước. Nhiều bài viết rất chi tiết, chẳng hạn như bài viết chỉ trích chi phí cao của các bài học bổ sung dành cho học sinh trung học mà phụ huynh Ai Cập phải trả. Các bài viết cũng bao gồm các số liệu thống kê thực tế về tỉ lệ nghèo đói, trầm cảm, tự tử, thất nghiệp, tử vong trẻ sơ sinh, ung thư do ô nhiễm nguồn nước, bất bình đẳng thu nhập, xếp hạng tham nhũng của đất nước theo CPI, và tỉ lệ xe cứu thương/đầu người.

Ngoài ra, trang đưa ra các phân tích dạng nhân quả – chẳng hạn cho rằng tham nhũng trong lực lượng cảnh sát do sự nghèo đói – và yêu cầu phải có các biện pháp khắc phục, như cần phải có các giải pháp tổng thể cho các vấn đề. Chủ trang cũng đưa ra các đề nghị như tăng ngân sách giáo dục và đổi mới phương pháp giáo dục trong nhà trường. Các bài viết không chỉ chân thực mà còn nhất quán. Trong thực tế, chủ trang đã phát triển một cương lĩnh chính trị, đưa ra bốn yêu cầu cho chế độ của Mubarak – giải quyết nghèo đói, chấm dứt luật khẩn cấp, sa thải Bộ trưởng Bộ nội vụ, và giới hạn số nhiệm kỳ tổng thống – và đề nghị tám hướng dẫn biểu tình để đảm bảo an toàn cũng như hiệu quả của nó. Nhìn chung, trang hoạt động tương tự như một kênh truyền thông của một phong trào/tổ chức chính trị.

Ngôn ngữ:
Trang sử dụng ngôn ngữ thông dụng và truyền cảm hứng cho người dân Ai Cập, với sự nhấn mạnh rằng họ có thể là tác nhân cho sự thay đổi. Theo Ghonim, ông lựa chọn viết theo ngôn ngữ phổ thông của Ai Cập hơn là tiếng Ả Rập cổ điển, như ông chia sẻ:

Tôi tránh những lối diễn đạt không được người dân Ai Cập sử dụng phổ biến, ngay cả khi chúng thường được giới hoạt động sử dụng, như nizann, một từ Ả Rập chỉ “chế độ”. Tôi cố gắng truyền tới các thành viên của trang cái cảm giác rằng tôi là một trong số họ, tôi không khác biệt gì với họ. Việc sử dụng đại từ “tôi” có vai trò quyết định trong việc khẳng định một sự thật là trang không được quản lý bởi một tổ chức, một đảng chính trị, hay một phong trào nào. Trái lại, người viết là một người Ai Cập bình thường, bị làm cho đau đớn và tức giận bởi những gì mà Khaled Said phải chịu.

Một trang Facebook khác đã tồn tại trước khi Ghonim tạo ra trang “Tất cả chúng ta là Khaled Said”, có thể cung cấp một sự tham chiếu hữu ích. Trang khác này, có tên là “Tên tôi là Khaled Mohamed Said”, với dòng chữ nhấn mạnh “Những kẻ giết Khaled sẽ không thể không bị trừng phạt, chúng mày là những con chó của chế độ.” Ghonim nói rằng “Tôi biết ngôn ngữ như vậy sẽ không giúp đạt được mục tiêu thu hút đông đảo mọi người.” Trái lại Ghonim cho rằng, trang của mình “dùng ngôn ngữ của thế hệ Internet, và giọng điệu thì luôn lịch sự và không đối đầu.”

Tuy nhiên, khi phân tích các bài viết, dù không cho thấy sự đối đầu, song luôn hướng đến thúc đẩy sự tham gia hành động. Rõ ràng chúng được tạo ra để truyền cảm hứng cho những người theo dõi, để đem lại niềm tin cho họ rằng, dù hàng thập kỷ dưới sự cai trị của Mubarak, song mọi thứ có thể thay đổi. Thuyết phục người dân tin rằng mỗi hành động của những từng cá nhân đơn lẻ luôn có một ý nghĩa rất lớn. Đồng thời kêu gọi họ tham gia vào hoạt động thực tế như biểu tình. Một bài viết nhấn mạnh, thậm chí cường điệu mà người chủ trang sử dụng để miêu tả vai trò của cá nhân: “Tôi thề với Chúa rằng tất cả các bạn là anh hùng ... tôi thề với Chúa các bạn là những người vĩ đại nhất trên thế giới .. tôi thề với Chúa các bạn làm rạng danh người Ai Cập.”

Một bài đăng khác “nếu tất cả chúng ta hành động, không ai có thể ngăn cản chúng ta, và tin tôi đi, quân đội sẽ đứng về phía chúng ta nếu chúng ta có chiến lược tốt” cho thấy sự lạc quan rất lớn cũng như sự chắc chắn trong lời khẳng định của ông về chiến thắng của người dân. Tương tự, một bài đăng khác sử dụng một chiến thuật ngược lại khi nhắm đến thực tế là một số người ở Tunisia chắc hẳn đã không tin rằng cuộc cách mạng của họ sẽ thành công, và giờ chắc họ phải “xấu hổ” lắm.

Ngôn ngữ của các bài viết cho thấy cả mong muốn tiếp cận với người dân thường Ai Cập lẫn các tu từ mạnh mẽ nhằm kích thích sự hành động khi thuyết phục người Ai Cập về tiềm năng của mỗi người trong số họ, trong một đất nước nơi mà sự bất mãn với bị coi là nguy hiểm cũng như chẳng thay đổi được gì.

Phản hồi:
Trong khi nội dung các bài đăng đều rất xuất sắc, thì các bình luận của những người theo dõi thường có phần hạn chế. Các bài viết của Ghonim thể hiện được sự phẫn nộ cũng như những ý tưởng hành động. Trái lại, bình luận của những người theo dõi đơn giản là bày tỏ sự ủng hộ cho cách mạng, dù với sự nhiệt tình, song thiếu sự biện minh dựa trên lý thuyết, bằng chứng, kinh nghiệm hay những đề nghị mới mẻ.

Phản hồi phổ biến nhất đối với bài đăng vào ngày 14 tháng 1 là kêu gọi chấm dứt chế độ. Các ví dụ điển hình như phản hồi của Nagwa Soliman: “hạ bệ, hạ bệ, sự cai trị của quân đội”; hay phản hồi của Abdelmagued: “hạ bệ cùng với tướng tá quân đội.” Nhìn chung hầu hết các phản hồi đòi kết thức sự cai trị của quân đội, sử dụng từ “hạ bệ” mà không có viện dẫn hay giải thích nhiều hơn.

Những dạng phản hồi phổ biến khác như phản hồi ca ngợi sự tử vị đạo của Kaled Kalil Elseniny “Vinh danh tất cả vinh danh … những người tử vì đạo”, phản hồi thể hiện hi vọng của Tiến sĩ Ali Mohammed Ali “Ước mơ sẽ không chấm dứt ….”, phản hồi đưa ra những sự kết tội bí ẩn như tổng thống Mubarak là một người của Israeli, phản hồi ca ngợi/kêu gọi Alla giúp đỡ của Salma Soly “Đó là ý muốn của Thượng đế, và tất cả chúng ta sẽ hoàn thành cuộc cách mạng của mình”, hay phản hồi bày tỏ sự lạc quan của Manal Mnola “cuộc cách mạng vĩ đại và Thượng đế sẽ giúp sức”. Hầu như 100 bình luận được nghiên cứu rơi vào các nhóm này.

Những phản hồi được khảo sát này không cho thấy được chiến lược, chiến thuật nhằm mang lại thành công cho sự huy động. Phản hồi liên quan nhất với công tác hậu cần là của Hisham Adel, hỏi liệu có bất cứ yêu cầu nào với người tham gia tuần hành hay không, và không thấy có đề nghị nào được đưa ra; và phản hồi liên quan nhất đến việc thúc đẩy một nghị trình chính trị là của Mahmoud Anwar, kêu gọi “Wael Ghonim làm tổng thống.”
Nhìn chung các phản hồi đối với bài viết của Ghonim khá tương tự, giống như một điệp khúc ủng hộ cho ý tưởng của chủ page hơn là những phân tích mang tính phê phán đối với chế độ hay đưa ra các chiến lược/chiến thuật tổ chức các cuộc biểu tình chống lại nó.

Phong cách lãnh đạo:
Trong khi lúc đầu trang tập chung vào cái chết của Said và sự tàn bạo của cảnh sát, thì sau đó do tác động của cuộc cách mạng xảy ra ở Tunisia, nó trở nên cấp tiến hơn. Ghnonim (2012) viết rằng trước thời điểm cách mạng, “việc đề cập đến Mubarak trên trang bị cấm.” Nhưng ngay khi Ben Ali bị lật đổ và chạy khỏi Tunisia, điều này không còn phải e dè nữa. Bài viết đầu tiên của ông tấn công trực diện vào chế độ Mubarak với một bức hình của Mubarak cùng cựu tổng thống Tunisia Ben Ali, với tựa đề “các bạn dẫn dắt và chúng tôi sẽ theo sau.”

Rõ ràng, trang bắt đầu với một sự tiếp cận tương đối ôn hòa, một điều khiến cho những người dân chưa quen với hoạt động phản kháng, cảm thấy dễ chịu và an toàn. Sau đó mới dần đi đến khuyến khích các thành viên tham gia nhiều hơn vào các hoạt động nhắm đến chế độ Mubarak. Trong thực tế, ban đầu trang tránh các hoạt động đường phố bởi Ghonim thấy các nhà hoạt động đã tổ chức một cuộc biểu tình nhưng tương đối ít người tham gia. Vì vậy, ông nói, “thay vào đó chúng tôi chọn những hoạt động online, để thúc đẩy một sự lạc quan và tin tưởng rằng chúng ta có thể tạo ra sự khác biệt, ngay cả chỉ trong thế giới ảo.” Các hoạt động như vậy bao gồm mời thành viên thay đổi hình nền Facebook của họ bằng hình của Said với lá cờ Ai Cập cũng như chụp hình họ để cho thấy rằng họ đang đọc “Tất cả chúng ta là Khaled Said.”

Sau đó, phong trào mới tiến xuống đường phố trong hình thức được tính toán sao cho không đe dọa chế độ. Những người theo dõi trang được khuyến khích tham gia vào hoạt động “đứng im lặng”. Trong hoạt động này, họ mặc quần áo màu đen và đứng cùng nhau ở nơi công cộng để thể hiện sự bất bình với việc giải quyết vấn đề của Said nói riêng cùng sự tàn bạo của cảnh sát nói chung. Tuy nhiên, các hoạt động như vậy không liên quan đến các yêu sách đối với chính phủ. Ngay như tên của sự kiện cũng cho thấy đó chỉ là ngôn ngữ diễn tả sự bất bình của người tham gia.
Bằng cách như vậy người chủ trang cố gắng từ từ thay đổi quan điểm và giá trị của người theo dõi, cũng như dần giúp họ trở nên cảm thấy thoải mái và chấp nhận những sự phản kháng chính trị cấp tiến hơn. Phong cách lãnh đạo của ông là phong cách của một người huấn luyện/hướng dẫn dài hạn. Nó rất chiến lược ở chỗ từ từ làm cho những người theo dõi trở nên quen và dần dần tham gia vào các hoạt động một cách tích cực hơn. Ghonim 2012 nhận xét rằng “thực tế việc chế độ không ngăn chặn (các hành động như vậy) đã khiến cho nhiều người tham gia hơn, và rào cản sợ hãi từ từ được hạ thấp xuống.” Như phân tích về ngôn ngữ của trang chỉ ra, những lời cổ vũ của Ghonim với những người theo dõi giúp họ vượt qua sự bi quan và cam chịu trong hàng thập kỷ dưới sự cai trị của Mubarak, và truyền bá niềm tin cho rằng họ có thể trở thành tác nhân cho sự thay đổi thực sự.
Cuộc cách mạng của Tunisa rõ ràng là điểm ngưỡng của trang, khi nó cung cấp một khung tham chiếu cho thấy khả năng thay đổi chế độ cũng như chính danh hóa việc tấn công trực tiếp vào chế độ của Mubarak. Vào ngày 14 tháng 1, khoảng một tháng sau vụ tự thiêu của Mohamed Buazizi vốn đã kích hoạt các cuộc biểu tình ở Tunisai, Ghonim đã đánh giá chính xác cơ hội chính trị ở Ai Cập. Lúc này ông đã dẫn dắt người theo dõi để cuối cùng huy động họ xuống đường chống lại chế độ của Mubarak.

Tác động:
Dĩ nhiên, chúng ta không thể biết liệu cuộc cách mạng Ai Cập có xảy ra không nếu không có trang Facebook này. Rõ ràng, nhiều trong số những áp lực, vốn thúc đẩy cuộc cách mạng ở Tunisia – bao gồm sự đàn áp chính trị, sự thất nghiệp của giới trẻ, nghèo đói, bất bình đẳng, sự kiểm duyệt truyền thông, sự tàn bạo của cánh sát, cũng như các sự kiện mang tính biểu tượng như cái chết của một thanh niên trẻ trong tay lực lượng cảnh sát – cũng hiện diện ở Ai Cập. Cuộc cách mạng đã không và cũng không thể xảy ra mà không có lý do. Và đây là lý do tại sao khi thảo luận về các nguyên nhân kích hoạt, Pierson (2004) lưu ý cần phải xem xét cẩn thận “tiến trình tích lũy từ từ những bức xúc, cũng như khả năng tiến trình này đã đạt đến mức, mà khi có một sự kích hoạt, cách mạng sẽ xảy ra.”

Thực tế là, Ghonim nằm trong số những người thúc đẩy hàng đầu cho các cuộc biểu tình từ ngày 25 tháng 1, và đóng góp của ông cho cách mạng thể hiện ở vai trò lãnh đạo về mặt tư tưởng của ông. Đồng thời, điều lật đổ chế độ Mubarak là sự tức giận và sự dũng cảm của người dân, những người đã được huy động xuống đường. Và cuối cùng, cách mạng đã đạt được trong thế giới thực, chứ không đơn thuần trong thế giới ảo. Ngoài ra, Ghonim không chỉ dựa vào truyền thông xã hội mà còn vào các chiến thuật tổ chức theo kiểu truyền thống, như đưa ra các thông cáo báo chí về các cuộc huy động sắp tới cũng như tổ chức các cuộc biểu tình trong thực tế. Do vậy, trong một chừng mực nào đó, trang Facebook này đóng vai trò xúc tác cho cuộc cách mạng. Không những chỉ đưa ra đề nghị người dân Ai Cập tham gia biểu tình vào ngày 25 tháng 1, mà còn giúp cấp tiến hóa những người theo dõi, cũng như chính danh hóa sự bất mãn thông qua sự phát triển của trang. Từ một diễn đàn dành cho người dân quan tâm về tình trạng lạm dụng của cảnh sát, hay đơn giản chỉ là tò mò về cái chết kinh hoàng của Said, trang đã trở thành một nơi tích cực khích động sự tức giận chống lại chế độ Mubarak và cuối cùng dẫn đến việc xuống đường biểu tình.

Thảo luận:
Từ vai trò của Ghonim ở trên cung cấp cho chúng ta một số bài học cho các nhà hoạt động online.

- Thứ nhất, khoa học về nhận thức cho thấy rằng con người bị tác động rất mạnh bởi các câu chuyện cá nhân. Câu chuyện của Said trở thành một công cụ quyền lực mang người Ai Cập lại với nhau, vì một lý tưởng chung, giúp xây dựng một lượng lớn người theo dõi cho trang Facebook của Ghonim.

- Thứ hai, nghiên cứu cũng chỉ ra phong cách lãnh đạo của Ghonim, một người đào tạo/hướng dẫn dài hạn. Ghonim từ từ đào tạo cho những người theo dõi mình trở nên quen thuộc với một mức độ bất mãn cao hơn, để khi các điều kiện cách mạng trở nên chín muồi, thì ông có một nhóm người theo dõi đã được chuẩn bị về mặt tư tưởng để có thể tham gia xuống đường. Một điểm đặc biệt của truyền thông xã hội được sử dụng trong tiến trình “làm mềm” (tìm từ khác để diễn đạt rõ nghĩa hơn) ban đầu những người theo dõi trang “Tất cả chúng ta là Khaled Said” là việc ẩn danh. Trái với việc có mặt trong các cuộc biểu tình đường phố, các cá nhân có thể đọc các bài viết trên truyền thông xã hội trong khi ẩn danh và do đó trách được sự đàn áp của chính quyền. Ngoài ra, một điều quan trọng nữa là các cá nhân có thể tham gia các thảo luận trên Facebook với tên giả.

- Cuối cùng, khi mọi người thấy những người khác tham gia thảo luận trên trang mà không bị sao, điều này khiến cho sẽ có thêm nhiều người Ai Cập cảm thấy an toàn khi làm như vậy. Sự phổ biến ngày càng tăng của trang này cũng như các công cụ truyền thông xã hội khác đã giúp đóng góp tạo ra “thác thông tin”’ khi người dân Ai Cập cuối cùng nhận ra rằng nếu họ biểu tình trên đường phố, thì người khác cũng làm như vậy, và cứ như thế. Truyền thông xã hội đã cung cấp một môi trường ít rủi ro hơn môi trường thực, qua đó cho phép cá nhân có những sự tham gia đầu tiên, vốn cần thiết trong việc kích hoạt một thác cách mạng xảy ra sau đó.

Kết quả cũng cho thấy khái niệm của King (cần có giải thích) về sự cần thiết của sự kiện kích hoạt trong việc tạo ra sự thay đổi có thể áp dụng mọi nơi. Ban đầu, trang Facebook của Ghonim hầu như không thể kích động một cuộc cách mạng. Trong quyển sách của mình, chính Ghnim thừa nhận rằng trước khi sự kiện ở Tunisia diễn ra, thì “sự nhiệt huyết của tôi bắt đầu giảm dần.” Sự kiện này đã tác động như một cú hích khiến ông gia tăng mức độ tu từ và cấp tiến trên trang của mình. Điều này cũng cho thấy rằng một mình ý tưởng của nhà hoạt động online không đủ khiến nó trở nên quyền lực, mà còn phải đúng thời điểm nữa.

Tu từ mà Ghonim sử dụng cũng cho thấy tầm quan trọng của việc thúc đẩy sự lạc quan cũng như thuyết phục mọi người về sức mạnh của chính họ. Các nhà khoa học thần kinh cũng chỉ ra rằng khả năng thực hiện hành động sẽ cao hơn khi con người biết rằng hành vi của mình có thể tạo ra sự khác biệt.

Một số sự kiện bên ngoài khác cũng đóng góp cho sự thành công của cuộc cách mạng. Chẳng hạn, không như chế độ Syria, phần lớn lực lượng an ninh Ai Cập không chống lại người dân – điều mà như các học giả trước đó nhận xét, chủ yếu là do người Ai Cập sử dụng truyền thông xã hội để ghi lại sự kiện. Ngoài ra, lý do mà cuối cùng người Ai Cập đã bước xuống đường phố không chỉ bởi Ghonim khuyến khích họ làm như vậy, mà bởi chế độ Mubarak khiến họ trở nên hết sức giận giữ.

Kết luận:
Nghiên cứu này cung cấp cho chúng ta hiểu biết sâu sắc hơn về cách chính xác mà truyền thông xã hội đã được sử dụng để thúc đẩy cuộc biểu tình mà cuối cùng dẫn đến lật đổ Mubarak. Rõ ràng Ghonim đã làm việc trong một thời gian dài để giáo dục người Ai Cập về sai trái và kém cỏi của chính quyền, cũng như từ từ giúp người dân trở nên quen thuộc với một mức độ tham gia chính trị sâu rộng hơn. Ông đã tận dụng một câu chuyện rất quyền lực – câu chuyện về cái chết kinh hoàng của Khaled Said – để làm thay đổi người dân Ai Cập. Đến khi thời cơ chính trị phù hợp, thông qua việc khẳng định rằng họ có thể tạo ra sự khác biệt, ông đã huy động được người dân Ai Cập xuống đường.

Nghiên cứu này đề nghị ba bài học về cách mà các nhà hoạt động chính trị có thể kích thích sự thay đổi xã hội:

- Thứ nhất, các nhân vật của công chúng cần tìm một cách tiếp cận từ từ để người dân quen dần với thông tin và ý tưởng mới (cấp tiến).

- Thứ hai, các nhà hoạt động cần phải là những người quan sát chính trị tinh tế để nhận biết “các sự kiện kích hoạt”, từ đó có thể tận dụng chúng. Các câu chuyện quyền lực, như cái chết của Khaled Said, là đặc biệt hữu hiệu, dù điều thật sự mang người dân Ai Cập xuống đường là sự lật đổ nhà lãnh đạo ở Tunisia.

- Thứ ba, thông điệp cần thuyết phục người dân rằng mỗi người trong số họ có thể tạo ra sự khác biệt.

 

 

20/01/2020

 

TRANG FACEBOOK TIẾNG ARAB “TẤT CẢ CHÚNG TA LÀ KHALED SAID” ĐÃ GÓP PHẦN THÚC ĐẨY CUỘC CÁCH MẠNG AI CẬP NHƯ THẾ NÀO (PHẦN 2)

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/giglio-egypt_154692_bhr4fo.jpg?resize=350%2C350&ssl=1

Nguồn ảnh: Tarek Fawzy / AP Photo

Kara Alaimo

An Nguyên biên dịch

Tóm tắt: Bài báo này phân tích cách mà người chủ trang Facebook tiếng Arab “Tất cả chúng ta là Khaled Said” đã kích thích cũng như tận dụng các cơ hội thuận lợi mà môi trường chính trị Ai Cập mang lại để thúc đẩy cuộc cách mạng năm 2011 như thế nào. Bằng việc phân tích nội dung của các bài đăng trên trang Facebook trước và trong cách mạng, nghiên cứu cho thấy người chủ trang, Wael Ghonim, đóng vai trò như một người đào tạo/hướng dẫn dài hạn, giáo dục những người theo dõi online của mình về sự lạm dụng quyền lực của chế độ Mubarak và giúp họ dần trở nên quen thuộc với các hoạt động chính trị tích cực hơn, để khi có sự kiện kích hoạt nổ ra – Cách mạng Tunisia – thì có thể huy động những người theo dõi của mình xuống đường biểu tình. Nghiên cứu này cho thấy vai trò quan trọng của truyền thông xã hội trong việc thúc đẩy thay đổi xã hội cũng như cung cấp các bài học hữu ích cho các nhà hoạt động chính trị.

Shirky (2008) cho rằng công nghệ truyền thông xã hội khiến cho việc chia sẻ thông tin trở nên dễ dàng hơn. Trong trường hợp của Ai Cập, ông nhận thấy trước cách mạng “những công cụ này cho phép người dân truyền tin mà không phải đối mặt với sự trì hoãn hay kiểm duyệt bởi các kênh tin tức chính thức…. cũng như điều phối các hành động phản kháng”. Ngoài ra, Shirky cũng thấy truyền thông xã hội giúp giảm bớt chi phí và khó khăn trong việc điều phối các nhóm lớn, qua đó khiến cho hành động tập thể trở nên dễ dàng hơn.

Gerbaudo (2012) gán vai trò lãnh đạo cho giới trẻ, những người dùng Facebook để thúc đẩy các cuộc biểu tình trên đường phố, cũng như huy động các tầng lớp thấp trong xã hội, vốn không dùng internet. Đồng thời, ông cũng nói thêm rằng những người nổi bật trên mạng xã hội trở thành lãnh đạo của các phong trào xã hội hiện đại. Trong khi Herrera (2014) thấy truyền thông xã hội được sử dụng trong cuộc cách mạng Ai Cập để truyền các “vemes – những ý tưởng mà sự ra đời, phát triển của nó xảy ra trong không gian ảo. Truyền thông xã hội là một máy sản xuất veme khổng lồ nơi mà các vemes lan truyền và tiến hóa giống như các cơ thể hữu cơ đang phát triển nhanh.” Herrera cho rằng sự thành công của trang “Tất cả chúng ta là Khaled Said” giúp kích động sự tức giận theo cách mà nó “lan truyền veme tử vì đạo thông qua kĩ thuật tiếp thị online hiện đại”.

Các học giả cũng tập trung vào vai trò của truyền thông xã hội trong việc ghi lại các cuộc biểu tình. Điều này đã khiến cho chính quyền gặp khó khăn hơn trong việc đàn áp, cũng như che đậy thông tin về những gì đang diễn ra trên đường phố. Một số người còn cho rằng lý do mà lực lượng an ninh Ai Cập không đàn áp người biểu tình là vì họ biết rằng mọi động thái của mình đều được ghi lại và có thể bị live stream cho cả thế giới thấy. Một điều khá nghịch lý, đó là các học giả thấy chính việc cắt Internet của chính quyền Ai Cập trong năm ngày, từ ngày 28 tháng 1 năm 2011, đã góp phần giúp sức cho phe đối lập. Bởi vì, khi “tầng lớp trung lưu Ai Cập không thể truy cập Internet tại nhà, họ đã đổ ra đường phố để tìm hiểu xem chuyện gì đang diễn ra.” Hơn một triệu người Ai Cập đã tham gia vào các cuộc biểu tình trên đường phố sau khi Internet bị cắt, tăng 10 lần so với trước đó. Việc cắt Internet cũng khiến cộng đồng quốc tế tức giận, bao gồm cả tổng thống Mỹ Barack Obama, người cam kết ủng hộ cho nhân quyền ở Ai Cập.

Các nghiên cứu về cách mạng cũng tập trung vào sự phát triển của công nghệ trước năm 2011, khi truyền thông xã hội ngày càng phổ biến hơn ở Ai Cập. Theo World Bank, tỉ lệ người Ai Cập tiếp cận Internet tăng từ chưa đến 1% vào năm 2000 lên tới 39,8% vào năm 2011. Howard and Hussain cũng nhận xét rằng, sau năm 2000, “việc đọc báo nước ngoài trực tuyến, nói chuyện với bạn bè và người thân ở nước ngoài đã trở thành một thói quen,” khiến cho người Ai Cập ngày càng ý thức hơn về những dạng chính quyền khác. Trong khi đó, số lượng blog ở Ai Cập cũng tăng chóng mặt, với chỉ 40 blog vào năm 2004, số lượng blog đã tăng lên đến 160.000 vào năm 2008. Điều này cho thấy nhu cầu cho sự tự biểu đạt ngày càng tăng.

Ngoài ra, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy những giới hạn của việc sử dụng truyền thông xã hội cho cách mạng. Youmans and York (2012) lưu ý rằng các công cụ như Facebook không được thiết chế cho mục đích hoạt động xã hội, mà cho mục đích thương mại. Do vậy, nó có thể tạo ra những khó khăn cho nhà hoạt động. Chẳng hạn, nhằm bảo vệ cho sự an toàn cho mình, chủ trang Facebook “Tất cả chúng ta là Khaled Said” là Wael Ghonim, đã sử dụng một bí danh khi tạo ra trang này. Tuy nhiên, việc sử dụng bí danh lại vi phạm chính sách đòi hỏi người sử dụng phải tiết lộ tên thật trên Facebook. Vì vậy, Facebook đã vô hiệu hóa tài khoản này trong một thời gian (sau đó trang được mở trở lại). Ngoài ra bản thân nhà nước cũng sử dụng truyền thông xã hội để giám sát và đàn áp người hoạt động cũng như người dân.

TẤT CẢ CHÚNG TA LÀ KHALED

Vào tháng 6 năm 2010, Ghonim, một nhân viên của Google đồng thời là một nhà hoạt động online, đã tạo ra trang Facebook tiếng Ả Rập có tên gọi “Tất cả chúng ta là Khaled Said” để phản kháng về cái chết của công dân Ai Cập 28 tuổi, Khaled Said. Trong cuốn sách của mình, Cuộc cách mạng 2.0, Ghonim miêu tả các bức ảnh về tử thi của Saide mà một người bạn của ông – Tiến sĩ Ayman Nour, một nhà hoạt động chính trị từng chạy đua cho chức vụ tổng thống – đăng trên Facebook như sau:

Đó là một bức ảnh kinh hoàng, trong đó khuôn mặt của một người đàn ông bị biến dạng hoàn toàn và đầy máu; môi dưới bị xé toạc một nửa, và quai hàm thì bị lệch; răng cửa thì không còn. Hình ảnh quá khủng khiếp đến nỗi tôi băn khoăn liệu có phải anh ấy đã bị thương trong chiến tranh, nhưng khi vào trang của Tiến sĩ Nour tôi biết rằng đó là Khaled Mohamed Said, người đã bị hai viên cảnh sát đánh tới chết vào ngày 6 tháng 6 ở Alexandria.

Sau đó, mẹ của Said nói rằng con trai bà bị giết bởi anh ấy đã đăng một video cho thấy cảnh sát địa phương đang chia nhau tiền và ma túy. Trái lại, Bộ nội vụ Ai Cập cho rằng Said chết vì ngạt sau khi nuốt một gói ma túy lớn – điều mà cả ba nhân chứng trực tiếp đều phủ nhận. Bộ này cũng nói rằng Said bán ma túy, sở hữu vũ khí, quấy rối tình dục và trốn nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, mẹ của Said đã phản bác lại cáo buộc cuối cùng bằng cách cho thấy một chứng nhận rằng Said đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc của mình.

Đối với Ghonim, cái chết của Said tượng trưng cho sự tàn bạo và phi nhân tính của lực lượng an ninh Ai Cập – mà người dân Ai Cập đang phải chịu đựng mỗi ngày. Do đó, ông đã tạo ra trang Facebook “Tất cả chúng ta là Khaled Said” để phản đối sự tàn bạo và tham nhũng của cảnh sát Ai Cập. Trang này sau đó trở thành trung tâm của các hoạt động trong các cuộc biểu tình chống Mubarak vào hai tháng đầu năm 2011. Sau khi Ghonim bị an ninh Ai Cập bỏ tù vào ngày 27 tháng 1 năm 2011, thì trang tiếp tục được điều hành bởi những người bạn hoạt động của ông.

(còn tiếp)

 


 

19/01/2020

 

TRANG FACEBOOK TIẾNG ARAB “TẤT CẢ CHÚNG TA LÀ KHALED” ĐÃ GÓP PHẦN THÚC ĐẨY CUỘC CÁCH MẠNG AI CẬP NHƯ THẾ NÀO (PHẦN 1)

 

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/8003191853_9191b9a802_b.jpg?resize=300%2C300&ssl=1

 

Nguồn ảnh: https://famst165da.wordpress.com

Kara Alaimo

An Nguyên biên dịch

Tóm tắt: Bài báo này phân tích cách mà người chủ trang Facebook tiếng Arab “Tất cả chúng ta là Khaled Said” đã kích thích cũng như tận dụng các cơ hội thuận lợi mà môi trường chính trị Ai Cập mang lại để thúc đẩy cuộc cách mạng năm 2011 như thế nào. Bằng việc phân tích nội dung của các bài đăng trên trang Facebook trước và trong cách mạng, nghiên cứu cho thấy người chủ trang, Wael Ghonim, đóng vai trò như một người đào tạo/hướng dẫn dài hạn, giáo dục những người theo dõi online của mình về sự lạm dụng quyền lực của chế độ Mubarak và giúp họ dần trở nên quen thuộc với các hoạt động chính trị tích cực hơn, để khi có sự kiện kích hoạt nổ ra – Cách mạng Tunisia – thì có thể huy động những người theo dõi của mình xuống đường biểu tình. Nghiên cứu này cho thấy vai trò quan trọng của truyền thông xã hội trong việc thúc đẩy thay đổi xã hội cũng như cung cấp các bài học hữu ích cho các nhà hoạt động chính trị.

Vào ngày 11 tháng 2 năm 2011, chế độ cai trị độc tài kéo dài 30 năm của tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak đi đến hồi kết khi thông báo rằng ông sẽ từ chức sau 18 ngày biểu tình liên tục trên khắp các đường phố của người dân Ai Cập. Và có một sự thật ngày càng trở nên rõ ràng hơn không chỉ đối với truyền thông dòng chính mà còn đối với cả giới hàn lâm đó là truyền thông xã hội đã góp phần quan trọng vào thành công của cuộc cách mạng này. Trang Facebook “Tất cả chúng ta là Khaled Said”, và các trang của Nhóm Trẻ 6/4, Liên minh Quốc gia cho Sự thay đổi, Kefaya, và của nhà thuyết giáo Ai Cập Amr Khaled đã tích cực hỗ trợ cuộc biểu tình, khiến nó lên tới hàng triệu người. Trong hai tuần trước cũng như trong một số những ngày đầu của các cuộc biểu tình, có 32.000 nhóm và 14.000 trang Facebook được lập ra ở Ai Cập. Sau năm ngày bị ngắt kết nối, thì ngày mà Internet hoạt động trở lại, Facebook đã chứng kiến một số lượng lớn chưa từng thấy người sử dụng truy cập tại Ai Cập. Do đó, cách mạng đã mang đến cho chúng ta một cơ hội quan trọng trong việc nghiên cứu cách thức sử dụng truyền thông xã hội để thúc đẩy sự thành công trong việc thay đổi chế độ.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần khẳng định rằng một mình truyền thông xã hội thì không đủ để thúc đẩy sự thay đổi chế độ. Ví dụ điển hình chính là Iran, nước có số lượng người dùng Internet lớn nhất khu vực Trung Đông. Việc sử dụng truyền thông xã hội trong các cuộc biểu tình phản đối kết quả bầu cử vào năm 2009 đã không thành công trong việc lật đổ Mahmoud Ahmadinejad, khi ông tiếp tục cầm quyền cho đến năm 2013. Dù các cuộc biểu tình ở Iran cũng có sự hiện diện của các công cụ truyền thông xã hội, những công cụ vốn góp phần quan trọng trong thành công của các cuộc cách mạng ở Ai Cập và Tunisia. Họ cũng có một video mang tính biểu tượng về Neda Agha-Soltan, cô gái 26 tuổi, đã bị giết khi tham gia biểu tình. Tương tự trường hợp của Iran, việc sử dụng truyền thông xã hội để ghi lại các vi phạm nhân quyền thô bạo của chính quyền Syria chống lại người dân cũng đã không thể khiến chấm dứt sự cai trị của Bashar al-Assad. Điều này dẫn đến câu hỏi quan trọng, đâu là các yếu tố khiến cho cuộc cách mạng ở Ai Cập thành công, trong khi các cuộc biểu tình chống chế độ ở các nơi khác trong khu vực lại thất bại.

Nghiên cứu này tập trung phân tích trang Facebook “Tất cả chúng ta là Khaled Said” để xem nó đã góp phần thúc đẩy cuộc cách mạng ở Ai Cập như thế nào. Dựa trên việc phân tích nội dung các bài đăng trên trang trước và trong các cuộc biểu tình vào hai tháng đầu năm 2011, chúng tôi thấy rằng thành công của trang trong việc thúc đẩy cuộc cách mạng phần lớn nằm ở cách mà người chủ trang tiếp cận với những người theo dõi thông qua việc hướng dẫn và giáo dục họ, từ từ giúp họ trở nên quen với các hình thức tham gia chính trị tích cực hơn. Đó là một sự chuẩn bị cần thiết cho việc huy động khi có một sự kiện kích hoạt nổ ra, và trong trường hợp này là cuộc cách mạng thành công ở Tunisia. Ngoài ra, thành công của trang còn nhờ vào cách mà nó sử dụng một câu truyện bi kịch với các tu từ đầy hùng hồn, thuyết phục người dân rằng họ có thể tạo ra sự khác biệt. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng cuộc cách mạng Ai Cập ít mang tính tự phát hơn so với niềm tin của nhiều người, đồng thời đưa ra các bài học quan trọng cho các nhà hoạt động những người đang tìm cách sử dụng truyền thông xã hội để thúc đẩy thay đổi chính trị và xã hội.

TÓM TẮT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÓ

Từ khi Mùa Xuân Ả Rập xảy ra đến nay, có một số lượng lớn các nghiên cứu tập trung vào đóng góp của truyền thông xã hội cho các cuộc nổi dậy, và đi đến khẳng định tầm quan trọng của công cụ này.

Khi phân tích về vai trò của truyền thông xã hội trong cuộc cách mạng ở Tunisia và Ai Cập, Howard and Hussain (2011) đã xác định bốn giai đoạn của một cuộc cách mạng như sau:

- Giai đoạn đầu tiên – chuẩn bị – thể hiện ở việc “giới hoạt động sử dụng truyền thông xã hội một cách sáng tạo để tìm kiếm nhau, xây dựng tình đoàn kết chung quanh những sự bất bình, và xác định các mục tiêu chính trị tập thể.”

- Tiếp theo là giai đoạn kích hoạt, “liên quan đến một sự kiện mà truyền thông nhà nước lờ đi, nhưng được chú ý rộng rãi trên mạng xã hội và thu hút sự quan tâm của cộng đồng”. Trong trường hợp của Tunisia, sự kiện này là việc Mohamed Bouazizi, một thanh niên 26 tuổi bán hoa quả rong đã tự thiêu để phản đối việc quan chức địa phương tịch thu gánh hàng rong của mình. Còn ở Ai Cập, sự kiện kích hoạt lại là sự thành công của cuộc cách mạng tại Tunisia.

- Giai đoạn ba là các cuộc biểu tình đường phố, cùng với đó là sự chú ý của cộng đồng quốc tế.

- Giai đoạn cuối cùng, ở cao điểm của các cuộc biểu tình, chế độ sụp đổ (thể hiện ở việc Mubarak từ chức).

Sự tức giận của người dân Ai Cập được thổi bùng bởi các hình ảnh của Khaled Said, người bị cảnh sát địa phương giết một tháng trước đó, như Howard and Hussain nhận xét:

Điều kích thích các cuộc biểu tình của người dân không chỉ đơn thuần do một hành động bạo lực của chế độ…. mà còn bởi sự phổ biến tin tức về sự phẫn lộ qua các mạng lưới gia đình, bạn bè và sau đó những người xa lạ đứng lên khi truyền thông nhà nước lờ đi câu chuyện.

Ngoài việc làm gia tăng sự tức giận, các học giả cũng thấy rằng truyền thông xã hội đã thúc đẩy người Ai Cập xuống đường. Theo lý thuyết về “thác thông tin”, nhiều người trong các quốc gia độc tài không hài lòng với chính quyền, nhưng bởi họ giữ những cảm xúc này trong lòng, nên mức độ bất mãn trong xã hội không thể ước lượng được. Cho đến khi một số người bắt đầu biểu tình, tạo ra một sự kích hoạt khiến một số lượng lớn những người khác cùng tham gia. Lynch (2011) cũng nhận xét là “theo quan điểm này, thì ảnh hưởng ngày càng tăng của các tiếng nói đối lập trên mạng xã hội sẽ giúp khuyến khích người dân, những người cũng có những sự bất mãn tương tự nhưng từ trước tới giờ vẫn giữ trong lòng, thì bây giờ sẵn sàng thể hiện công khai (thông qua việc tham gia biểu tình).”

 


 

 

17/01/2020

 

FACEBOOK GÓP PHẦN VÀO CÁC CUỘC CÁCH MẠNG NHƯ THẾ NÀO?

 

https://i0.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/facebook.jpg?resize=300%2C300&ssl=1

 

Nguồn ảnh: Internet

Sự kiện Đồng Tâm là một câu chuyện bi thảm và đau thương. Tuy nhiên, đây cũng là một cơ hội để phơi bày sự thối nát của chế độ, đồng thời thức tỉnh người dân. Sự thức tỉnh của người dân có thể sẽ khiến cho họ trở nên mạnh dạn hơn trong việc bày tỏ các quan điểm, cũng như có những hành động tích cực hơn để tham gia vào đời sống chính trị - điều mà cuối cùng có thể sẽ dẫn đến các cuộc cách mạng.

Chúng ta đang chứng kiến một cuộc chiến quyết liệt trên truyền thông. Một bên là bộ máy truyền thông chính thống với hàng trăm tờ báo của đảng và lực lượng dư luận viên hùng hậu lùng sục khắp nơi trên facebook, tất cả thông tin của họ đều chỉ từ một nguồn duy nhất: Bộ Công an. Bên kia là các facebooker đơn lẻ nhưng dũng cảm, những con người bất chấp sự an nguy của bản thân để tiếp cận dân Đồng Tâm, lấy được những mẩu tin, những hình ảnh rời rạc nhưng quý giá từ họ. Tiếp sức cho các facebooker tuyến đầu là hàng trăm facebooker khác với những bài viết, bài bình luận đầy ấn tượng.

Nỗi sợ hãi của chế độ đã bộc lộ quá rõ ràng khi họ không còn phép lịch sự cần thiết mà phải tuyên bố “Đã đến lúc Việt Nam không còn kiên nhẫn với Facebook”, hay sự việc Facebook phải đóng đánh giá trang của RFA, vì các lượt đánh giá bất thường liên quan đến một video của RFA về Đồng Tâm, với hơn 4 triệu lượt xem.

SỐ LƯỢNG LÀ SỨC MẠNH, ngay cả khi đó là chỉ là một cái like, share, comment,… Bởi trong điều kiện đàn áp mạnh tay hiện nay ở Việt Nam, những hành động như vậy chính là sự thể hiện thái độ của người dân với chế độ. Và điều quan trọng chúng ta cần nhớ rằng, khoảng cách giữa không gian ảo online và không gian thực ofline là rất nhỏ. Chính những con người like, share, comment trên mạng ảo đó, một ngày kia, họ sẽ dấn thân sâu hơn nữa thông qua việc xuống đường chống lại chế độ bất công này.

Hiện tượng bất mãn từ không gian mạng xã hội xuống đến đường phố đã trở thành hiện tượng của thời đại. Chúng ta đã chứng kiến điều này trong các cuộc “Cách mạng Màu”, “Mùa xuân Ả Rập”, hay gần đây trong “Phong trào Phản kháng ở Hong Kong”. Tất cả chỉ bắt đầu bởi những sự kiện đơn lẻ, như một người bị giết, một dự luật phẫn nộ trước sự bất công… Rồi dưới tác động của truyền thông xã hội - công cụ giải phóng ý thức con người - cùng những sự bất mãn âm ỷ trong lòng các xã hội độc tài từ lâu, tất cả sẽ được kích hoạt ở cùng một thời điểm nào đó không ai biết trước được, sẽ bùng nổ và trở thành một cuộc cách mạng.

Chính vì vậy, hãy biến những đau thương thành cơ hội để truyền cảm xúc, cảm nhận về công lý và huy động người dân. Để cuối cùng có thể chấm dứt mọi bất công bằng những đòi hỏi dân chủ và công lý.

Công lý cho cụ Lê Đình Kình và người dân Đồng Tâm cũng là công lý cho người Việt Nam!

Để giúp bạn đọc hiểu về vai trò của facbook và mạng xã hội nói chung trong các cuộc cách mạng của thời đại internet ngày nay, NXB Tự Do sẽ lần lượt đăng tải các trích đoạn bản dịch của bài báo “Trang facebook tiếng Ả-rập ‘Tất cả chúng ta là Khaled Said’ đã góp phần thúc đẩy cuộc Cách mạng Ai Cập năm 2011 như thế nào”. Bài báo này là một trong 9 bài nghiên cứu được dịch giả An Nguyên lược dịch và đưa vào trong cuốn sách “CÁCH MẠNG XÃ HỘI” vừa được NXB Tự Do phát hành tháng 01/2020.

XIN MỜI CÁC BẠN ĐÓN ĐỌC LOẠT BÀI VIẾT (SẼ ĐƯỢC ĐĂNG TẢI TRONG VÀI NGÀY TỚI).

 

14/01/2020

 

DÙNG TRUYỀN THÔNG ĐỂ LÊN ÁN NGƯỜI DÂN ĐỒNG TÂM LÀ VÔ HIỆU

 

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/81967244_1084641878581419_6631870623935102976_o.jpg?resize=400%2C400&ssl=1

 

Nguồn ảnh: Internet

Vào lúc 19h ngày 13/01/2020, thời sự VTV đã đăng một bản tin về sự việc ở Đồng Tâm, trong đó có những đoạn video ngắn là lời khai từ thân nhân của cụ Lê Đình Kình – thủ lĩnh tinh thần của người dân Đồng Tâm: con trai cụ là ông Lê Đình Công, cháu nội cụ là Lê Đình Doanh.

Thực chất, những chiêu trò này không có gì là mới lạ nhưng nhà cầm quyền vẫn sử dụng. Có lẽ vì họ nhận thấy đây là cách làm truyền thông hiệu quả, vì vẫn còn nhiều người dân tin vào hoặc đuối lý trước những video clip như vậy.

Để giúp bạn đọc hiểu rõ việc nhận tội trên truyền thông có giá trị pháp lý hay không, Nhà xuất bản Tự Do xin trích dẫn một phần trong cuốn “Cẩm nang nuôi tù” của tác giả Phạm Đoan Trang. Phần nội dung này cung cấp kiến thức pháp lý để người dân có thể tự bảo vệ mình hoặc tăng khả năng phản biện lại những lý lẽ của dư luận viên trên mạng xã hội.

****

Trích “Cẩm nang nuôi tù”:

Chương IV: Đấu tranh pháp lý

I. Theo luật quốc tế

4. Quyền im lặng:

Quyền này có nghĩa là: Người bị bắt có quyền không khai báo, không trả lời các câu hỏi của cơ quan/cá nhân tiến hành tố tụng, không nhận tội. Cơ quan tiến hành tố tụng gồm cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án. Cá nhân tiến hành tố tụng, hiểu rộng, là những cá nhân thuộc các cơ quan đó.

Bản chất của quyền im lặng là người bị bắt không phải nhận tội, không phải khai báo, khai nhận bất kỳ điều gì bất lợi cho bản thân. Ngược lại, về phía cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan này không được phép sử dụng bất kỳ hình thức nào để gây áp lực, cưỡng ép, buộc người bị bắt phải nhận tội hay khai ra điều gì có hại cho họ, chống lại họ.

Mọi hành vi dùng nhục hình, tra tấn, đối xử tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục, đều bị cấm tuyệt đối. Mọi lời khai lấy được nhờ sử dụng những thứ này đều không hợp lệ, không được thừa nhận.

Như vậy có nghĩa là việc công an giam giữ người, không cho tiếp xúc với luật sư, không cho gặp mặt gia đình trong thời gian kéo dài, khiến người bị giam không thể chịu đựng nổi, cấu thành sự cưỡng ép để lấy lời khai, và là hành động vi phạm nhân quyền không thể chối cãi.

Như vậy cũng có nghĩa, việc công an buộc người bị giam “nhận tội”, “xin khoan hồng” trước ống kính, quay phim lại và công chiếu rộng rãi trên truyền hình là hành động làm nhục công khai, và chỉ chứng tỏ công an vi phạm nhân quyền mà thôi. Bản thân lời nhận tội, xin khoan hồng đó không có giá trị pháp lý, không được coi là bằng chứng hợp lệ để kết tội người bị “bêu”lên truyền thông đó.

Ngay cả việc viết biên bản lấy lời khai, hay viết báo cáo, nói rằng “đối tượng ngoan cố, quanh co, gian dối” hoặc “đối tượng khai nhận…” cũng có thể cấu thành hành vi hạ nhục người khác, và vi phạm nhân quyền.
Trên thực tế, công an Việt Nam và đồng nghiệp Trung Quốc có truyền thống bắt người bất đồng chính kiến phải nhận tội trước ống kính máy ảnh, máy quay phim, rồi tung lên báo, lên truyền hình cho công luận xem. Đối với công an, việc này có lẽ là để định hướng dư luận cùng lên án, kết tội người bất đồng chính kiến, đánh phá hình ảnh và uy tín cá nhân của người bất đồng chính kiến cũng như phong trào dân chủ nói chung, chứ họ cũng biết là nó không có giá trị pháp lý. Ở Việt Nam từ năm 2009 đến nay, từng có các vụ “nhận tội trên ti-vi” của luật sư Lê Công Định, nhà hoạt động Nguyễn Văn Hóa, người biểu tình Trương Hữu Lộc…

*****

Nếu như bạn quan tâm đến những kiến thức pháp luật và muốn hiểu rõ để hành xử cho đúng chuẩn mực pháp luật trước những sai trái của nhà cầm quyền, hãy tìm đọc “Cẩm nang nuôi tù” của tác giả Phạm Đoan Trang.

Bạn có thể nhắn tin inbox trên fanpage của nhà xuất bản hoặc email về [email protected]

Nhà xuất bản Tự Do trong thời gian tới đây cũng sẽ ra mắt Quý độc giả một báo cáo đầy đủ và chi tiết về sự việc xảy ra ở Đồng Tâm, Hà Nội. Kính mong Quý độc giả gần xa quan tâm theo dõi và đón đọc.

 


 

 

11/01/2020

 

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI TRONG CUỘC CÁCH MẠNG AI CẬP 2011 (phần 3)

 

Nahed Eltantawy, Julie B. Wiest

Minh Tâm biên dịch

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/1aa53.jpg?resize=350%2C300&ssl=1Nguồn ảnh: Internet

TÓM TẮT

Bài báo này nghiên cứu việc sử dụng truyền thông xã hội trong cuộc Cách mạng Ai Cập năm 2011. Thông qua việc nghiên cứu này, cho thấy rằng truyền thông xã hội đóng vai trò là một công cụ quan trọng trong thành công của các cuộc biểu tình chống chế độ mà kết quả là sự từ chức của nhà độc tài Mubarak.

 

VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG MẠNG XÃ HỘI

Vào ngày 21 tháng 1, Negm đăng một bài có tên “Trở nên cao quý và biểu tình vào ngày 25 tháng 1”, kêu gọi người theo dõi cô tham gia biểu tình cùng các nhà hoạt động trên đường phố. Cô đăng một video về một nhà hoạt động Ai Cập trẻ, người đang tham gia phong  trào, cùng lời nhắn: “Bạn có thấy cô gái này không? Cô ấy sẽ tham gia biểu tình”. Negm khuyến khích mọi người mời bạn bè hay những người Ai Cập khác cùng tham gia, và sẽ gặp nhau trên đường tham gia biểu tình. Cô viết “đi…đi trên đường. Đi đi đi …. và nói nói nói …. và hát hát bài hát quốc ca, hát Beladi Beladi (đất nước tôi, đất nước tôi). Trong bài của mình, Negm viết:

Nếu bạn có thể chụp những bức hình, hãy chụp …. nếu bạn có thể sử dụng Twitter, hãy gửi tweets … nếu bạn có thể blog, hãy blog … từ đường phố. Có các đoàn người đang tuần hành ủng hộ các lý tưởng của chúng ta ở Tunisia và Jordan, và tôi cũng vừa biết được rằng có những đoàn người tương tự đang tuần hành ở Paris nữa. Tất cả họ đặt niềm tin vào chúng ta.

Các sáng kiến mạng xã hội khác minh họa cho tốc độ tương tác và lan truyền mới trong việc huy động bao gồm các trang Facebook như: “ElBaradei trở thành tổng thống” và “Tất cả chúng ta là Khaled Said”, cung cấp cổng tương tác, trao đổi thông tin, và huy động người sử dụng. Một trang Facebook khác, được tạo ra bởi ba thiếu niên Ai Cập vào ngày 16 tháng 1, còn được biết đến với tên gọi “25 tháng 1: ngày cách mạng chống lại bạo lực, nghèo đói, tham nhũng và thất nghiệp”; quản lý trang “25 tháng 1” đăng một video giới thiệu họ tới công chúng và bày tỏ cảm nhận của họ về sự truyền cảm hứng của cuộc cách mạng ở Tunisia, và kêu gọi một cuộc cách mạng tương tự ở Ai Cập. Do đó, những trang Facebook này cho phép các nhà hoạt động phổ biến ngay tức thì các thông điệp tới hàng triệu người sử dụng với mọi thành phần, cũng như tới các khu vực khác nhau trên khắp Ai Cập.

Tốc độ và sự tương tác trên truyền thông xã hội không chỉ giúp liên kết người biểu tình, mà còn cung cấp các phương tiện để phổ biến các thông tin quan trọng về cách mạng và tìm kiếm sự giúp đỡ trong trường hợp gặp nguy hiểm. Khi cuộc cách mạng Ai Cập bắt đầu vào ngày 25 tháng 1, các nhà hoạt động đăng trên blog và Facebook của họ những lời động viên, cùng với các chỉ dẫn chi tiết trên cơ sở các bài học từ người biểu tình Tunisia. Trong số thông điệp này, người biểu tình Tunisia khuyên người biểu tình Ai Cập nên biểu tình vào ban đêm cho an toàn, tránh các hành động “tự sát”, sử dụng truyền thông để truyền đi thông điệp của mình ra bên ngoài nhằm tạo áp lực, sơn đen kính các xe vũ trang của lực lượng an ninh, và rửa mặt bằng Coca – Cola để làm giảm ảnh hưởng của khí gas.

Người biểu tình Ai Cập cũng sử dụng truyền thông xã hội để thu hút sự chú ý khi gặp nguy hiểm, cũng như cung cấp cho các nhà hoạt động và thế giới bên ngoài thông tin cập nhật liên tục. Tờ The Guardian trích dẫn các tweet từ Mohamed Abdelfattah, một nhà báo video Ai Cập, người tham gia biểu tình tối ngày 25 tháng 1 năm 2011, với một loạt các tweet ngắn kế tiếp trong khi biểu tình đang diễn ra:

@mfatta7 Khí gas

@mfatta7 Tôi đang ngạt thở

@mfatta7 Chúng tôi bị bao vây trong một tòa nhà

@mfatta7 Xe bọc thép ở bên ngoài

@mfatta7 Giúp đỡ, chúng tôi đang bị ngạt thở

@mfatta7 Tôi sẽ bị bắt

@mfatta7 Giúp đỡ !!!

@mfatta7 Bị bắt

@mfatta7 Ikve [Tôi] đã bị đánh rất nhiều

Trong khi theo cách truyền thống, bạn phải gửi một fax, thực hiện một cuộc gọi… thì giờ đây các nhà hoạt động Ai Cập có thể giảm thời gian trả lời và tăng an toàn cá nhân bằng cách sử dụng điện thoại di động để gửi các tweet SOS trực tiếp.

Các nhà hoạt động khác sử dụng Twitter và Facebook để thu hút sự chú ý của quốc tế đối với cuộc cách mạng. Họ đăng các hình ảnh và video mô tả các sự kiện cách mạng, các cập nhật cùng các thông tin về việc lực lượng cảnh sát đàn áp người biểu tình – và vì vậy đã thu hút được sự chú ý của thế giới. Dispatch News UN đã xuất bản một bài báo online tiêu đề “10 hướng dẫn Twitter bắt buộc cho người biểu tình Ai Cập”. Bởi các cập nhật liên tục của các nhà hoạt động thông qua các cổng truyền thông xã hội, người Ai Cập và người nước ngoài nắm được những gì đang diễn ra ở Ai Cập. Chẳng hạn, một nhà hoạt động đã tweet và blog với cái tên 3Arabawy. Nội dung tweet như sau: “up video đầu tiên: http://www.youtube.com/watch?v=U3lEhQMPywE Đám đông tránh khí gas và cảnh sát ở Tahrir #jan25 #egypt”. Một người sử dụng Twitter khác, @weddady, tweet kêu gọi truyền thông quốc tế hướng sự chú ý của quốc tế tới cuộc biểu tình: “KHẨN CẤP: ĐỀ NGHỊ cả CHÂU ÂU VÀ MỸ tweet #Jan25 VUI LÒNG KÊU GỌI TRUYỀN THÔNG CỦA CÁC BẠN ĐƯA TIN VỀ #AI CẬP HIỆN TẠI”. Một lần nữa, truyền thông xã hội cung cấp một nguồn lực huy động mạnh mẽ giúp người biểu tình sử dụng để truyền tải tới thế giới các sự kiện đang diễn ra. Đây là một sự phát triển quan trọng của việc huy động xã hội, khi chính người biểu tình phát tán thông tin, ảnh và video – chứ không chỉ riêng nhà báo hay các lãnh đạo của các nhóm. Khi chính quyền cấm các nhà báo xuất hiện ở quảng trường Tahrir trong nỗ lực nhằm ngăn không cho thông tin lan ra thế giới, truyền thông xã hội cho phép người biểu tình trở thành nhà báo.


 

 

10/01/2020

 

VỤ CƯỠNG CHẾ ĐỒNG TÂM – ĐÚNG HAY SAI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM?

 

 

Vụ cưỡng chế đất ở Đồng Tâm vào rạng sáng ngày 09/01/20120 đã gây ra những cái chết thảm khốc cho cả 2 phía: người dân và lực lượng cưỡng chế. Vụ việc này ngay lập tức trở thành điểm nóng, tạo ra hai luồng dư luận trái ngược nhau, tranh cãi và thậm chí là chửi rủa lẫn nhau trên mạng xã hội giữa hai bên: một bên ủng hộ bà con Đồng Tâm và bên kia ủng hộ chính quyền. Phía ủng hộ người dân Đồng Tâm thì thương xót cho những người tử nạn và cho rằng, công an hỗ trợ chính quyền cướp đất của dân nên phải trả giá là thích đáng. Phía ủng hộ chính quyền thì thì khóc than cho những người công an bị chết và cho rằng, người dân Đồng Tâm sử dụng vũ khí thô sơ để chống lại chính quyền là phạm tội, phải trừng trị.

Vậy dưới góc nhìn của luật pháp, vụ việc này nên được hiểu như thế nào?

VỀ THỜI GIAN TẤN CÔNG

Theo thông tin trên mạng xã hội do các facebooker đưa dựa vào nguồn tin từ người dân Đồng Tâm, thì sự việc công an tấn công vào làng Đồng Tâm diễn ra vào lúc 4h sáng ngày 09/01/2020. Thông tin từ phía Bộ Công an và báo chí lề đảng thì không rõ ràng, thông báo trên cổng thông tin Bộ Công an chỉ nói mập mờ là sáng ngày 09/01/2020, nhưng một số báo thì viết là rạng sáng ngày 09/01/2020. Rạng sáng được hiểu là vào tầm 4-5h sáng, nghĩa là không phải trong khung giờ làm việc hành chính.

Việc lực lượng cưỡng chế tấn công người dân vào thời điểm đêm hôm khuya khoắt như vậy đã tạo ra một cảm giác khuất tất cho công luận và là một sai phạm nghiêm trọng về phương diện pháp luật. Điểm b, khoản 1,  điều 70 Luật đất đai năm 2013 về cưỡng chế kiểm đếm bắt buộc quy định: “Thời điểm bắt đầu tiến hành cưỡng chế được thực hiện trong giờ hành chính”.

Chỉ riêng đối chiếu với điều khoản này thì chính quyền đã hoàn toàn sai khi bắt đầu tiến hành cưỡng chế lúc 4h sáng, giờ mà người dân đang ngon giấc trong ngôi nhà của họ.

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/ĐT-2.jpg?resize=300%2C200&ssl=1Nguồn ảnh: Internet

VỀ ĐỊA ĐIỂM TẤN CÔNG

Trước hết cần nói rõ, địa điểm tranh chấp đất đai trong vụ Đồng Tâm nằm ở khu vực Cánh đồng Sênh, ngay sát bên cạnh sân bay Miếu Môn, đây là một khu đất nông nghiệp, là cánh đồng mà người dân Đồng Tâm đã canh tác hàng trăm năm qua. Còn ngôi làng mà người dân Đồng Tâm sinh sống nằm ở Thôn Hoành. Đây là hai địa điểm hoàn toàn khác nhau và nằm cách nhau khoảng chừng 2km (xem bản đồ).

Nhưng vào lúc rạng sáng ngày 09/01, lực lượng cưỡng chế không tổ chức cưỡng chế đất tại Cánh đồng Sênh mà lại tổ chức tấn công vào nhà dân tại Thôn Hoành, cụ thể là tấn công vào nhà cụ Lê Đình Kình, một thủ lĩnh tinh thần của dân Đồng Tâm. Địa điểm này được báo Dân trí xác nhận qua lời nói hớ của đại tá Nguyễn Bình – Trưởng phòng Cảnh sát hình sự (Công an TP Hà Nội) rằng, “khi tổ công tác vào cổng thôn Hoành (xã Đồng Tâm) thì bị một nhóm người chống đối quyết liệt; sử dụng quả nổ, bom xăng và 2 quả lựu đạn ném vào tổ công tác”.

Cuộc tấn công này được bên tấn công chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Những hình ảnh từ hiện trường cho thấy hàng ngàn quân được trang bị đầy đủ với áo quần bảo hộ, khiên chắn,… Như vậy, mục tiêu của cuộc tấn công này chính là người dân Đồng Tâm chứ hoàn toàn không phải là nhắm vào khu đất cần cưỡng chế. Công an với đầy đủ khí giới chủ động tấn công vào nhà dân, tấn công vào lúc nửa đêm, lúc mọi người còn đang ngủ. Chúng ta có thể nhận thấy, rõ ràng là họ đến với mục đích bắt – giết người chứ không phải đến để giải phóng mặt bằng.

 

Theo luật pháp Hoa Kỳ, công dân hoàn toàn có quyền được dùng vũ khí sát thương để bảo vệ tính mạng, đất đai, hoặc nơi cư trú của họ. Trong một bài viết trên Luật khoa Tạp chí, tác giả Quỳnh Vi, một luật sư ở Mỹ, phân tích:

“Quyền được dùng vũ khí sát thương để bảo vệ tính mạng, đất đai, hoặc nơi cư trú của công dân, đều được các tiểu bang Hoa Kỳ cho phép.

Các đạo luật tiểu bang và hệ thống án lệ của các tòa liên bang ngày nay đều dựa vào một chuẩn mực pháp lý được cổ xúy mạnh mẽ bởi Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Đó là nguyên tắc, người tự vệ “không có nghĩa vụ phải thoái lui” (no duty to reatreat).

Trước hết, chúng ta cần hiểu nghĩa vụ phải thoái lui là gì. Nghĩa vụ này có thể hiểu nôm na là nếu một người bị người khác tấn công thì trước tiên phải kiếm đường… né. Nếu như chẳng may tránh né không được hoặc không thể nào chạy trốn, thì chỉ lúc đó mới được sử dụng vũ lực để tự vệ. Lý do là vì luật pháp khuyến khích người dân tìm các phương pháp giảm thiểu tranh chấp để tránh những hành vi bạo lực.

Thế nhưng, pháp luật Hoa Kỳ trong vòng gần 200 năm qua lại kết luận rằng, nghĩa vụ nói trên là không cần thiết khi một người vì bảo vệ đất đai hoặc nơi cư trú của mình mà phải sử dụng vũ lực. Tức là ở Mỹ, người dân có quyền lập tức nổ súng tấn công kẻ xâm nhập đất đai của họ, chứ không việc gì phải tìm đường trốn trước”.

Như vậy, nếu theo luật pháp… Hoa Kỳ thì người dân Đồng Tâm, những con người đang ở trong ngôi nhà của họ, hoàn toàn có quyền tự vệ, có quyền chống lại những kẻ xông vào nhà lúc nửa đêm để tấn công họ. Cả về mặt đạo đức và mặt công lý thì hành động tự vệ của họ đều không sai.

Luật pháp Việt Nam, theo tìm hiểu của chúng tôi, dường như không có quy định cụ thể về quyền tự vệ của người dân trước kẻ xâm phạm tư gia bất hợp pháp (?). Tuy thế, luật Việt Nam cũng có những quy định về việc sử dụng vũ khí đối với lực lượng công an.

 

QUY ĐỊNH VỀ SỬ DỤNG VŨ KHÍ ĐỐI VỚI CÔNG AN

Điểm c, khoản 5 điều 71 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Lực lượng Công an có trách nhiệm bảo vệ trật tự, an toàn trong quá trình tổ chức thi hành quyết định cưỡng chế thu hồi đất”. Hoàn toàn không có một quy định nào về việc công an có quyền tấn công người bị cưỡng chế thu hồi đất.

Điều 23 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ quy định:

  1. Phải căn cứ vào từng tình huống, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà đối tượng thực hiện để quyết định việc sử dụng vũ khí quân dụng;
  2. Chỉ sử dụng vũ khí quân dụng khi không còn biện pháp nào khác để ngăn chặn hành vi của đối tượng và sau khi đã cảnh báo mà đối tượng không tuân theo. Nếu việc sử dụng vũ khí quân dụng không kịp thời sẽ đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe của bản thân hoặc người khác hoặc có thể gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác thì được sử dụng ngay;
  3. Không sử dụng vũ khí quân dụng khi biết rõ đối tượng là phụ nữ, người khuyết tật, trẻ em, người cao tuổi, trừ trường hợp những người này sử dụng vũ khí, vật liệu nổ tấn công hoặc chống trả, đe dọa tính mạng, sức khỏe của người thi hành công vụ hoặc người khác;
  4. Trong mọi trường hợp người sử dụng vũ khí quân dụng phải hạn chế thiệt hại do việc sử dụng vũ khí quân dụng gây ra.

Khi lực lượng công an tấn công vào nhà cụ Lê Đình Kình, họ biết rõ trong nhà có người già (hai vợ chồng cụ Kình); có trẻ nhỏ (hai bé chắt cụ Kình) và có rất nhiều phụ nữ, nhưng họ vẫn xông vào tấn công. Cần phân biệt rõ, công an là bên tấn công trước, tấn công bằng vũ khí sát thương, còn người dân chỉ chống đỡ, phản công lại khi bị tấn công. Phân biệt rõ ràng bên tấn công và bên bị tấn công để thấy rõ tính chính nghĩa thuộc về ai.

***

Chỉ cần lướt qua việc phân tích ba điểm: thời gian tấn công, địa điểm tấn công và quy định về sử dụng vũ khí đối với lực lượng công an thì chúng ta có thể thấy chính quyền Hà Nội và lực lượng tấn công cưỡng chế đã hoàn toàn sai trong cách xử lý vụ việc.

Nhưng với thói quen dám làm không dám chịu, để che đậy tội lỗi của họ và để lèo lái dư luận đối với những người không hiểu biết pháp luật, công an đã tung ra một lực lượng dư luận viên hùng hậu từ ngày 09/01/2020 đi đánh phá facebook của các nhà hoạt động, những người đưa tin về vụ Đồng Tâm; đánh phá facebook của những người quan tâm chính trị và ủng hộ lẽ công bằng cho người Đồng Tâm. Họ dùng những ngôn từ có tính chất lăng mạ, sỉ nhục người dân Đồng Tâm, những người không may đã chết trong cuộc xung đột. Họ sỉ nhục cả người già, lớn tuổi như cụ Kình. Họ cố ý gây nhiễu dư luận bằng những thông tin mập mờ đánh lận con đen như việc đưa tin thời điểm xảy ra vụ việc là buổi sáng mà không nói rõ là 4h sáng, giờ mà người dân đang ngủ. Địa điểm xảy ra vụ việc cũng mập mờ khi họ nói rằng bị tấn công trong quá trình xây dựng tường rào, làm nhiều người hiểu lầm là xảy ra tại khu đất đất tranh chấp chứ không phải trong làng, trong nhà dân. Đồng thời cách nói mập mờ và kết tội làm cho nhiều người tưởng rằng người dân Đồng Tâm là bên chủ động tấn công trước.

Nếu đường hoàng và minh bạch, sao chính quyền lại phải ngăn chặn phóng viên, luật sư, nhà hoạt động đến Đồng Tâm tìm hiểu sự việc và đưa tin khách quan?

Nhà xuất bản Tự Do sẽ sớm có những ấn phẩm, báo cáo tường trình và nghiên cứu đầy đủ về vụ cưỡng chế đất hết sức sai trái này.

Nguồn tham khảo:


 

 

10/01/2020

 

CÔNG AN CÓ BỊ BUỘC PHẢI TUÂN LỆNH CẤP TRÊN TRONG TẤT CẢ CÁC TÌNH HUỐNG?

 

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/WhatsApp-Image-2020-01-09-at-23.41.17.jpeg?resize=300%2C300&ssl=1
https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/WhatsApp-Image-2020-01-09-at-23.41.24.jpeg?resize=300%2C300&ssl=1

Nguồn ảnh: Internet

Vào khoảng 3h sáng 09/01/2020, hàng ngàn công an đã tấn công vào làng Đồng Tâm – Hà Nội, xông vào từng nhà, ném bộc phá, lựu đạn cay… để trấn áp người dân, bắt đầu một cuộc cưỡng chiếm đất bài bản với mức độ bạo lực chưa từng có.

Cuộc tấn công này đã gây ra cái chết của ít nhất một người dân, và làm bị thương nhiều người. Có khả năng nó cũng đã gây ra cái chết của một em bé mới 3 tháng tuổi và một cụ già đã ngoài 80. Truyền thông quốc doanh cũng vội vã đưa tin rằng có 3-4 “chiến sĩ” “hy sinh khi làm nhiệm vụ”.

Quy mô và mức độ tàn bạo của cách mà công an đối xử với dân làm cho bất kỳ ai có lương tri cũng phải bàng hoàng.

Nhưng mỗi khi công an Việt Nam tham gia vào các vụ cưỡng chế dân như cướp đất hoặc đàn áp biểu tình, họ đều có một luận điệu chung để tự biện minh là “làm vì nhiệm vụ được giao”. Họ mặc nhiên quan niệm rằng đã là công an thì bắt buộc phải thực hiện mệnh lệch cấp trên ban xuống.

Ngay cả những người đấu tranh dân chủ-nhân quyền, cũng nhiều người bảo nhau rằng nên tha thứ cho công an vì “công an chỉ làm theo lệnh trên giao”, “nhiệm vụ cả thôi mà”.

Có đúng như vậy không? Có đúng là công an, quân đội nhất nhất phải tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên, ngay cả khi đó là mệnh lệnh sai trái không?

Để trả lời câu hỏi này, Nhà xuất bản Tự Do xin trích đăng một bài viết trong tác phẩm “Chính trị bình dân” của tác giả Phạm Đoan Trang. Bài viết được tác giả lược dịch từ các tài liệu “Human Rights Standards and Practice for the Police” và “International Human Rights Standards for Law Enforcement – A Pocket Book on Human Rights for the Police”.

* * *

NGHỀ CÔNG AN TRONG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ

Công an phải bảo vệ sự an toàn của cộng đồng và quyền của tất cả mọi người.

Công an phải là một cơ quan độc lập trong nhánh hành pháp, chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo của tòa án và bị ràng buộc bởi các mệnh lệnh của tòa án.

Mọi cơ quan hành pháp đều phải đại diện cho toàn thể cộng đồng, phải minh bạch và chịu trách nhiệm trước toàn thể cộng đồng.

Tất cả quan chức/ cán bộ công an đều thuộc về cộng đồng và có nghĩa vụ phục vụ cộng đồng.

Tất cả công an phải thực thi chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ như những đầy tớ tận tụy, không thiên vị, của toàn thể cộng đồng.

Bất kỳ công an nào cũng không được phép tham gia trực tiếp vào hoạt động chính trị.

Bất kỳ công an nào cũng không thể được lệnh hoặc bị ép buộc phải thực thi chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ hay huy động nguồn lực công an để hỗ trợ hay phá hoại bất kỳ đảng phái/ nhóm lợi ích nào cũng như thành viên của đảng phái/ nhóm lợi ích đó.

Công an có nghĩa vụ bảo vệ quyền của tất cả các đảng phái, cá nhân và tổ chức, cũng như bảo vệ tất cả các đảng phái, cá nhân và tổ chức đó, một cách bình đẳng, không gây sợ hãi, không tạo đặc quyền đặc lợi.

TẤT CẢ CÔNG AN ĐỀU PHẢI:

Giữ tính độc lập về chính trị và tính công bằng, vô tư, ở mọi lúc mọi nơi.

Thực thi tất cả nhiệm vụ một cách công bằng, vô tư, và không phân biệt đối xử về sắc tộc, chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hay chính kiến.

Bảo vệ và tôn trọng nhân quyền của tất cả mọi người, gồm cả những quyền thiết yếu trong chính trị.

Giữ gìn và bảo vệ trật tự xã hội sao cho nền chính trị dân chủ có thể vận hành một cách hợp hiến và hợp pháp.

LÃNH ĐẠO CÔNG AN PHẢI:

Đảm bảo rằng mọi chính sách và đường lối của ngành công an đều trên tinh thần tôn trọng dân chủ.

Có biện pháp để xác định nhu cầu của cộng đồng và đáp ứng các nhu cầu đó.

SỬ DỤNG VŨ LỰC VÀ VŨ KHÍ TRONG NGÀNH CÔNG AN

Mọi người đều có quyền sống, quyền được an toàn, quyền không bị tra tấn hay phải chịu các cách đối xử và trừng phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo, xúc phạm nhân phẩm.

Công an luôn luôn phải sử dụng các biện pháp phi bạo lực trước tiên.

Chỉ được sử dụng vũ lực khi cực kỳ cần thiết.

Chỉ được sử dụng vũ lực cho các mục đích hành pháp đúng luật.

Việc sử dụng vũ lực phải luôn tương xứng với các mục tiêu hợp pháp.

Sử dụng vũ lực luôn phải có sự kiềm chế.

Phải giảm thiểu thiệt hại vật chất và thương vong.

TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG VŨ LỰC VÀ VŨ KHÍ:

Cán bộ, nhân viên từ chối tuân theo những mệnh lệnh vi phạm pháp luật sẽ được miễn trách.

Cán bộ, nhân viên lạm quyền không thể nại lý do tuân lệnh cấp trên để được miễn trừ trách nhiệm.

CÁC TÌNH HUỐNG CHO PHÉP DÙNG VŨ KHÍ

Công an chỉ được sử dụng vũ khí trong các tình huống cực đoan.

Công an chỉ được sử dụng vũ khí để tự vệ hoặc để bảo vệ người khác khỏi nguy cơ sắp bị giết hoặc bị thương nặng, hoặc để ngăn chặn một tội ác đặc biệt nghiêm trọng, kéo theo nguy cơ đe dọa mạng sống, hoặc để bắt giữ hoặc ngăn chặn việc bỏ trốn của một cá nhân đang gây ra một mối đe dọa hoặc đang chống lại các nỗ lực ngăn chặn mối đe dọa đó, và

Việc cố ý sử dụng vũ lực và vũ khí chỉ được cho phép khi đó là việc thật sự không thể tránh khỏi để có thể bảo vệ sinh mạng con người.

**************

Như vậy, chúng ta có thể thấy, người công an hoàn toàn có QUYỀN TỪ CHỐI TUÂN LỆNH cấp trên, nếu mệnh lệnh đó vi phạm pháp luật và sử dụng bạo lực quá mức cần thiết. Công an không được nại lý do tuân lệnh cấp trên để mong được miễn trừ trách nhiệm.

Vũ khí chỉ để dùng để chống lại những kẻ phạm tội nguy hiểm, những kẻ là kẻ thù của dân tộc. Vũ khí không phải là thứ để sử dụng bừa bãi vào việc chống lại người dân.


 

 

09/01/2020

 

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI TRONG CUỘC CÁCH MẠNG AI CẬP 2011 (phần 2)

 

 

Nahed Eltantawy, Julie B. Wiest

Minh Tâm biên dịch

https://i2.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/58086390_58086132.jpg?resize=400%2C300&ssl=1Nguồn ảnh: Internet

TÓM TẮT:

Bài báo này nghiên cứu việc sử dụng truyền thông xã hội trong cuộc Cách mạng Ai Cập năm 2011. Thông qua việc nghiên cứu này, cho thấy rằng truyền thông xã hội đóng vai trò là một công cụ quan trọng trong thành công của các cuộc biểu tình chống chế độ mà kết quả là sự từ chức của nhà độc tài Mubarak.

 

VAI TRÒ CỦA TRUYỀN THÔNG MẠNG XÃ HỘI

Tuy bạn không thể khẳng định Cách mạng Ai Cập là một cuộc cách mạng Interntet, song các công nghệ truyền thông hiện đại mang đến một công cụ quan trọng đóng góp vào việc khởi phát và duy trì các cuộc biểu tình ngày 25 tháng 1. Chính phủ Ai Cập đã mở rộng năng lực công nghệ thông tin quốc gia nhằm thúc đẩy kinh tế xã hội, do đó, lượng sử dụng truyền thông xã hội của người Ai Cập tương đối lớn. Vào đầu năm 1999, chính phủ đưa ra các sáng kiến thúc đẩy Internet, bao gồm miễn phí tiếp cận Internet, máy tính giá rẻ, và sự mở rộng của các trung tâm tiếp cận Internet. Theo công ty nghiên cứu tiếp thị trên internet có tên Internet World Stats, vào tháng 2 năm 2010, hơn 21% trong số 80 triệu dân Ai Cập tiếp cận với Internet, và khoảng 4,5 triệu người sử dụng Facebook. Ngoài ra, hơn 70% người dân sử dụng điện thoại di động.

Vào đầu những năm 2000, một số blogger Ai Cập trở nên nổi tiếng khi nói về những vấn đề gai góc. Các blog ban đầu chỉ sử dụng tiếng Anh, nhưng sự phát triển của các phần mềm Ả Rập giúp tạo ra nhiều blog tiếng A Rập hơn, do đó thu hút được một lượng lớn người theo dõi trong nước. Khi thế giới blog phát triển, các nhà hoạt động cũng bắt đầu sử dụng các công cụ truyền thông khác, như Facebook, Flickr, Twitter và điện thoại di động. Tháng 4 năm 2008, đánh dấu nỗ lực hoạt động trên không gian mạng đầu tiên, khi các nhà hoạt động tạo ra một trang Facebook để huy động các công nhân sợi ở Mahalla đình công. Trang Facebook thu hút được 70.000 người ủng hộ, song cuộc đình công bị đàn áp tàn bạo bởi lực lượng an ninh. Tuy nhiên, kinh nghiệm và kiến thức học được từ lần thử nghiệm đầu tiên này đã chứng tỏ sự hữu ích cho các cuộc biểu tình và cuộc cách mạng vào năm 2011.

Điều có lẽ quan trọng nhất trong việc sử dụng truyền thông xã hội trong cuộc cách mạng ở Ai Cập là nó thay đổi cách huy động người dân. Truyền thông xã hội gia tăng tốc độ và sự tương tác trong việc huy động đến mức mà các công nghệ huy động truyền thống như rải truyền đơn, các bảng hiệu, và fax không thể làm được. Chẳng hạn, truyền thông xã hội cho phép các nhà hoạt động Ai Cập ở trong nước cũng như quốc tế theo dõi các sự kiện diễn ở Ai Cập, tham gia vào các nhóm, hay các cuộc thảo luận trên mạng xã hội (điều trước đây chưa từng xảy ra).

Có một số nhà hoạt động cá nhân, với kiến thức về huy động qua truyền thông xã hội, cũng góp phần thúc đẩy cách mạng. Những nhà hoạt động này tạo ra các nhóm trên Facebook, các blog cá nhân, các tài khoản Twitter để lôi kéo người ủng hộ và người theo dõi vào các cuộc tranh luận về những gì đang diễn ra ở Ai Cập. Vào mùa hè năm 2010, nhóm Facebook có tên “Tất cả chúng ta là Khalid Said” được tạo ra sau cái chết của chàng trai trẻ. Dù nhóm ban đầu được sử dụng để phổ biến thông tin về cái chết của Said, song nó nhanh chóng mở rộng sang thảo luận các vấn đề chính trị, và thu hút nhiều nhà hoạt động chính trị trẻ. Các thành viên của nhóm sử dụng không gian này để cập nhận thông tin và thảo luận về những sai trái của chế độ Mubarak, điều này khiến nó nó trở nên ngày càng nổi tiếng.

ElBaradei là một trong những nhân vật chính tận dụng sức mạnh của Internet để trao đổi với những người ủng hộ và phổ biến thông tin. Bên cạnh đó Liên minh Quốc gia vì Sự thay đổi và các nhóm có tinh thần tương tự khác hình thành các trang Facebook ElBaradei riêng nhằm hỗ trợ cho trang Facebook và tài khoản Twitter cá nhân của ElBaradei. Vào tháng 10 năm 2010, ElBaradei được trích dẫn trong một tờ báo ở Úc nói rằng thay đổi chắc chắn sẽ đến với Ai Cập: “Thời điểm đến khi người dân vứt bỏ sự sợ hãi mà chế độ đã tạo ra”.

Một cá nhân khác đóng góp cho cách mạng thông qua kĩ thuật truyền thông xã hội là Omar Afifi, một cựu cảnh sát sau trở thành nhà hoạt động. Vào năm 2008, Afifi viết một quyển sách hướng dẫn người Ai Cập cách tránh sự đàn áp tàn bạo của cảnh sát. Quyển sách bị cấm và tính mạng Afifi bị đe dọa, buộc ông phải đi tị nạn ở Mỹ. Afifi sau đó tận dụng sức mạnh của truyền thông xã hội tiếp tục nỗ lực hướng dẫn người dân Ai Cập thông qua Youtube, Facebook, và Twitter. Khi cánh mạng Tunisia nổ ra, Afifi đưa ra một loạt các video trên Youtube hướng dẫn chi tiết các kĩ thật tiến hành cách mạng. Afifi cũng cung cấp chi tiết về ngày chính xác của cách mạng, nơi đâu người biểu tình nên tụ tập, và họ nên mặc gì… Quan trọng nhất, các video chỉ dẫn của Afifi nhấn mạnh việc biểu tình ôn hòa. The Associated Press trích dẫn một nhà phân tích về Trung Đông nói nằng Afifi “về cơ bản bắn phát súng đầu tiên” khi ông đưa ra video đầu tiên về cuộc cách mạng ở Tunisia vào ngày 14 tháng 1.

Một số nhà hoạt động truyền thông xã hội trẻ, thông qua trao đổi thông tin trên Facebook và Twitter, cũng giúp khởi phát cách mạng. Thanh niên Ai Cập, cũng như thanh niên Tunisia, đưa ra hướng dẫn cho mọi thứ từ sử dụng công nghệ sao cho tránh bị chính quyền giám sát đến việc đối mặt với đạn cao su, và thiết lập các chướng ngại vật. Ở Ai Cập, Phong trào Ngày 6 tháng 4, một nhóm chủ yếu dựa vào Facebook và truyền thông xã hội để có được sự ủng hộ, là một trong những nguồn lực về mặt tổ chức chính của cuộc biểu tình ngày 25 tháng 1. Hai năm trước đó, các lãnh đạo của Phong trào này đã bắt đầu nghiên cứu về phương pháp đấu tranh phi bạo lực, và thậm chí thiết kế logo của phong phào tương tự logo của phong trào giới trẻ Serbia, Otpor, tổ chức đã lật đổ chế độ độc tài Milosevic. Các thành viên của nhóm cũng từng đi tới Serbia để gặp các nhà hoạt động của Otpor. Internet rõ ràng là công cụ chính cho các nhà hoạt động trao đổi kiến thức để có thể chuẩn bị tốt hơn cho việc tổ chức cuộc biểu tình ngày 25 tháng 1.

Một thuận lợi lớn khác của truyền thông xã hội trong cuộc cách mạng Ai Cập là khả năng của nó trong việc trao đổi phổ biến nhanh chóng thông tin tới hàng triệu người trong và ngoài Ai Cập. Chẳng hạn, người Ai Cập vừa chăm chú quan sát những sự kiện đang diễn ra ở Tunisia vừa đồng thời lên một kế hoạch biểu tình cho chính mình. Các nhà hoạt động ở cả hai nước cùng trao đổi thông tin, ý tưởng, và sự động viên cho nhau thông qua Internet. Trong cuộc cách mạng Tunisia, các blogger Ai Cập cập nhật các bài viết, đăng tải các hình ảnh, video về các cuộc biểu tình ở Tunisia lên Twitter, Facebook, và các blog cá nhân. Vào ngày 17 tháng 1 năm 2011, các nhà hoạt động nữ Ai Cập và blogger Nawara Negm đăng một video chứa thông điệp từ một diễn viên nữ Ai Cập với những lời động viên người Tunisia. Negm cũng đăng thông tin và số điện thoại di động, thúc giục người Ai Cập gửi các tin nhắn động viên người Tunisia trong các cuộc biểu tình.

 


 

 

08/01/2020

 

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI TRONG CUỘC CÁCH MẠNG AI CẬP 2011 (phần 1)

 

 

Nahed Eltantawy, Julie B. Wiest

Minh Tâm biên dịch

https://i0.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/Untitled.jpg?resize=400%2C300&ssl=1

Hàng nghìn người biểu tình Ai Cập tụ tập ở quảng trường Tahrir ở Cairo để phản đối, đòi chính quyền quân sự chuyển giao quyền lực năm 2011. Nguồn: Internet

TÓM TẮT:

Bài báo này nghiên cứu việc sử dụng truyền thông xã hội trong cuộc Cách mạng Ai Cập năm 2011. Thông qua việc nghiên cứu này, cho thấy rằng truyền thông xã hội đóng vai trò là một công cụ quan trọng trong thành công của các cuộc biểu tình chống chế độ mà kết quả là sự từ chức của nhà độc tài Mubarak.

 

BỐI CẢNH CÁCH MẠNG

Các cuộc biểu tình lớn trên khắp đường phố Ai Cập, kèo dài trong 18 ngày, chống lại tổng thống Honsi Mubarak, người đã cai trị đất nước một cách độc tài trong suốt 30 năm. Tuy truyền thông mạng xã hội đóng một vai trò to lớn trong cuộc cách mạng, nhưng bên cạnh đó cũng có một số yếu tố và các hoạt động khác thúc đẩy sự phát triển của các sự kiện, đã làm kích hoạt các cuộc biểu tình nổ ra vào ngày 25 tháng 1. Dưới thời Mubarak, môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ngày càng trở nên đình trệ và ngột ngạt. Các cuộc bầu cử tổng thống và quốc hội không minh bạch; tham nhũng hiện diện ở khắp các cơ quan chính quyền; đời sống chính trị của người dân Ai Cập bị áp bức, không có tự do ngôn luận, tự do biểu tình, và sự tham gia chính trị nói chung. Đất nước luôn trong tình trạng khẩn cấp từ năm 1967, cho phép chính quyền đàn áp biểu tình, kiểm duyệt truyền thông, và giam giữ người dân trong thời gian dài mà không cần kết án. Để gia tăng quyền lực, Mubarak đã đưa ra 37 điểm sửa đổi hiến pháp vào năm 2007 nhằm gia tăng sự kiểm soát của mình cũng như bóp nghẹt người dân hơn nữa. Trong đó bao gồm quyền xét xử người dân trong các tòa án quân sự, hủy bỏ sự giám sát của tư pháp đối với các cuộc bầu cử quốc hội, và áp đặt các giới hạn nhằm ngăn các ứng viên độc lập chạy đua trong các cuộc bầu cử. Theo báo cáo hàng năm của Chương trình Phát triển của UN vào năm 2008, khoảng 20% người Ai Cập sống dưới mức nghèo đói, và việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản của họ ngày càng khó khăn hơn. Dân chúng tưởng như sẽ phục tùng chế độ vĩnh viễn tuy những bất mãn đang ngày càng gia tăng. Nhưng cuối cùng sự kiên nhẫn cũng biến mất khi Hosni Mubarak đang chuẩn bị cho con trai Gamal kế nhiệm mình.

Chính trong bối cảnh như vậy mà Mohamed ElBaradei, người từng giành giải Nobel hòa bình vào năm 2005 và là cựu chủ tịch Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IAEA), đã giành được sự ủng hộ mạnh mẽ và sau này trở thành một trong số những lãnh đạo đối lập thúc đẩy sự phát triển của cách mạng. ElBaradei là một trong số những người đầu tiên lên tiếng phản đối chính quyền, kêu gọi cải cách dân chủ và công bằng xã hội. Vào năm 2009, khi ElBaradei chuẩn bị nghỉ hưu ở IAEA, ông bắt đầu tiếp cận với giới trẻ Ai Cập để truyền đi hy vọng rằng thay đổi là có thể xảy ra ở Ai Cập. Dần dần, ElBaradei trở thành kẻ thù chính của chế độ bởi ông sẵn sàng chỉ trích và làm xấu mặt chế độ. Vào tháng 2 năm 2010, ElBaradei và một nhóm khoảng 30 chính trị gia, trí thức, và các nhà hoạt động hình thành Liên minh Quốc gia cho Sự thay đổi, một liên minh đối lập nhằm thúc đẩy cho lời kêu gọi cải cách dân chủ mà ElBaradei đưa ra trước đó.

Ngoài không khí chính trị căng thẳng, thì các đặc điểm địa lý, như gần với Tunisia, cũng như vị trí của quảng trường Tahrir nằm ở trung tâm Cairo, cũng đóng góp cho sự phát triển và thành công của cuộc biểu tình ngày 25 tháng 1. Ai Cập và Tunisia cùng ở Bắc Phi (cách nhau Libya), và cùng nhìn ra Địa Trung Hải. Cả hai có đa số dân số theo Hồi giáo, cùng sử dụng tiếng A Rập, và đều nằm dưới sự cai trị của các nhà độc tài trong nhiều thập kỷ. Những sự tương đồng này giúp giải thích sự quan tâm của người Ai Cập đến các sự kiện ở Tunisia, và sự thành công ở đó rõ ràng đã truyền cảm hứng rất lớn cho người Ai Cập.

Vị trí hoàn hảo của quảng trường Tahrir ở chính trung tâm của Cairo là một yếu tố khác đóng góp cho thành công của cách mạng. Quảng trường Tahrir (hay Giải phóng) với không gian mở và rộng lớn nằm ở trung tâm mua bán Cairo, gần với ga tàu điện ngầm kết nối với nhiều quận khác. Không gian mở này cho phép hàng triệu người tập trung ở quảng trường, cũng như thế giới bên ngoài biết những gì đang xảy ra ở đó (thông qua việc dễ dàng truyền tin ra bên ngoài). Ngay cả khi các nhà báo bị kéo ra khỏi quảng trường bằng vũ lực bởi những kẻ côn đồ của Mubarak, thì nhiều người vẫn tiếp tục cập nhật về những gì đang diễn ra thông qua việc đặt camera ở các tòa nhà xung quanh quảng trường. Vị trí này cũng là một điểm tập hợp thuận tiện cho người biểu tình từ khắp Cairo đổ về.

Một số sự kiện khác, truyền cảm hứng về mặt chính trị, cũng đóng góp quan trọng cho thành công của cách mạng Ai Cập. Một trong số những sự kiện quan trọng nhất đó là cái chết tàn bạo của Khaled Said vào tháng 6 năm 2010. Said, một chàng trai trẻ từ Alexandria, bị hai cảnh sát tiếp cận trong một quán cafe. Truyền thông và các bloger cho rằng cảnh sát đòi tiền Said, và khi anh nói với họ rằng anh không có, thì họ đã đánh anh trong quán café. Việc đánh đập tàn bạo tiếp tục diễn ra bên ngoài quán cho đến khi Said chết trên đường phố. Một xe cảnh sát sau đó đến lấy xác của Said, và gia đình được báo rằng Said đã chết sau khi cố nuốt một gói ma túy lớn. Tuy nhiên, những người ủng hộ Said tin rằng anh bị giết vì đăng một video cho thấy hai cảnh sát đang lấy tiền sau khi bán ma túy. Ngay sau cái chết của Said, các website tràn ngập hình ảnh khuôn mặt biến dạng của Said, và nhiều người, bao gồm các nhà hoạt động nhân quyền và ElBaradei, xuống đường bày tỏ sự tức giận của mình. Đối với nhiều người Ai Cập, cái chết của Said trở thành một biểu tượng về sự tàn bạo thường ngày của cảnh sát. Việc giết Said cũng truyền cảm hứng cho việc hình thành một nhóm Facebook rất ảnh hưởng mang tên của anh mà chúng ta sẽ thảo luận trong phần sau.

Sự kiện quan trọng cuối cùng diễn ra trước các cuộc biểu tình ở Ai Cập là cuộc cách mạng ở Tunisa, bắt đầu vào ngày 17 tháng 12 năm 2010, và kết thúc với sự từ chức của tổng thống Ben Ali vào ngày 15 tháng 1 năm 2011. Dù người dân Ai Cập đã dự định tổ chức các cuộc biểu tình lớn vào ngày 25 tháng 1 (ngày nghỉ lễ chính thức, Ngày Cảnh sát Ai Cập), song sự thành công của cách mạng ở Tunisia đã có ảnh hưởng lớn đến người dân Ai Cập, làm tăng cường cảm quan về một mục đích chung, chủ yếu do sự tương đồng mà người dân cả hai nước cùng chia sẻ.


 

 

07/01/2020

 

Tại sao lại đe doạ ‘Cẩm nang nuôi tù’?
Ngân Khánh – (VNTB)

 

 

https://i0.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/cam-nang-nuoi-tu-696x435-1.jpg?resize=400%2C300&ssl=1

Trang web Học viện Chính trị Công an Nhân dân ngày 18/12/2019 đăng tải bài viết, ‘Lại giở trò vu cáo dân chủ, nhân quyền’.

Nội dung phê phán, cảnh báo các đầu sách do cô Phạm Đoan Trang viết và do Nhà Xuất Bản Tự do ấn hành.

Liên quan đến cuốn ‘Cẩm nang nuôi tù’, tác giả Lê Vĩnh Bình cho rằng: Cuốn “Cẩm nang nuôi tù” tuyên truyền xuyên tạc hoạt động của lực lượng Công an, hướng dẫn các đối tượng cách hoạt động trong và ngoài nhà tù, vu cáo hoạt động của lực lượng CAND, cách đối phó lại với hoạt động nghiệp vụ của cơ quan chức năng, cách lợi dụng mạng xã hội, vận động quốc tế, “quốc tế hóa” vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” Việt Nam…

Những cáo buộc từ tác giá Lê Vĩnh Bình khiến người viết cảm thấy như chính tác giả chưa từng đọc qua Luật Tố tụng hình sự 2015. Bởi vì nếu đã đọc luật và hiểu được luật, thì tất cả những ‘hướng dẫn các đối tượng cách hoạt động trong và ngoài nhà tù’ đều là những quy trình được cô Phạm Đoan Trang lược trích lại từ trong luật mà ra.

‘Đối phó lại với hoạt động nghiệp vụ’, thực tế những đối phó đó là gì tác giả không đề cập, nhưng nếu ám chỉ cách thức công dân ứng xử với giấy mời hay giấy triệu tập, thậm chí là quyền im lặng, hay đề cập về hỗ trợ của luật sự khi làm việc với cơ quan công an thì đó không phải là ‘đối phó’, mà nên được hiểu là vận dụng các quy định của pháp luật và quyền của công dân.

‘Quốc tế hoá’ vấn đề dân chủ, nhân quyền sao lại là sai trái khi chính nhà nước đã và đang tìm cách ‘hội nhập’. Từ ký các công ước nhân quyền cho đến thực thi tuyên truyền công ước về quyền dân sự và chính trị trong nước (vào tháng 9/2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký văn bản tuyên truyền về quyền dân sự – chính trị trong các cơ quan nhà nước), đó cũng là một hình thức ‘quốc tế hoá’.

Chưa kể báo cáo định kỳ UPR vừa qua được dẫn đầu bởi một vị Thứ trưởng Bộ Công an vừa qua cũng là một hình thức ‘quốc tế hoá’ vấn đề dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Nhà nước càng hội nhập sâu rộng thì quyền con người càng gắn bó với các định chế phổ quát, và đó là xu hướng tất yếu. Chỉ có những quốc gia có vấn đề nhân quyền và dân chủ, hoặc khép kín hoàn toàn như Triều Tiên mới ‘lo sợ’ quốc tế hoá. Bởi quốc tế hoá không khiến một nhà nước bị lật đổ, mà nó thuần tuý giám sát các cam kết của nhà nước đó đối với nhân quyền, dân chủ.

‘Vu cáo, xuyên tạc hoạt động của lực lượng công an’, ở đâu và chi tiết nào? Nếu chỉ là những câu từ chung chung như thế thì chính tác giả đã ‘vu cáo, xuyên tạc’ đối với cá nhân tác giả và tác phẩm.

Một bài viết giá trị khi nó có tính thực chứng thay vì những ngôn từ chung, chỉ muốn áp đặt một tội trạng mơ hồ mà bản thân cuốn sách không hề chứa đựng. Quan trọng hơn, ‘nói có sách, mách có chứng’ phải là tiêu chí hàng đầu để từ đó có thể giúp độc giả nhận diện tính sai trái của đối tượng mà bài viết hướng tới. Đáng tiếc, tác giả Lê Vĩnh Bình đã không làm được điều đó. Và đội ngũ quản trị viên website Học viện Chính trị Công an Nhân dân đã ‘dễ dãi’ khi cho đăng tải.

Nếu tác giả Lê Vĩnh Bình sống trong một xã hội thượng tôn pháp luật, thì bài viết rất ‘nông nỗi’ của tác giả có thể bị kiện ra toà vì hành vi ‘xúc phạm, xuyên tạc’ vô cớ đối với tác giả, tác phẩm.

Trong một khía cạnh khác, ‘Cẩm nang nuôi tù’ đáng lý ra phải được tuyên dương vì nó là những hướng dẫn, giáo dục pháp luật cực kỳ sinh động, trực quan, liên quan đến đảm bảo quy trình tố tụng hình sự được tố tụng đúng. Nâng cao nhận thức quyền và nghĩa vụ trong công dân. Hạn chế mức độ lạm dụng quyền lực, gây oan sai trong cơ quan hành pháp.

‘Cẩm nang nuôi tù’ xuất hiện và được độc giả đón nhận đơn giản bởi tính thực tế của nó. Và hoàn cảnh xã hội đã nuôi dưỡng, làm nên sức sống của tác phẩm. Ngược lại, là bị ‘đào thải’ như hàng vạn các tác phẩm khác được xuất bản trong năm qua.

Đồng nghĩa, chừng nào nạn ép cung, mớm cung còn tồn tại. Chừng nào nghiệp vụ ‘đánh thỏ thành gấu’ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận không nhỏ nhân viên hành pháp, khiến thương vong trong các trại tạm giam, và nhà giam còn xuất hiện thì chừng đó ‘Cẩm nang nuôi tù’ vẫn sẽ còn tính giá trị của nó.

Trong bối cảnh nhà nước Việt Nam hội nhập kinh tế – xã hội, thì nhân quyền cần phải tiếp tục được coi trọng, dân chủ phải được ưu tiên, và thượng tôn pháp luật (sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật) vẫn phải tiếp tục là nguyên tắc sống còn của một quốc gia. Và nếu như thế, thì tại sao phải kết án vu vơ đối với ‘Cẩm nang nuôi tù’ với ngôn từ đe doạ ‘bỏ tù’ trong khi nội dung tác phẩm không chứa đựng như những lời cáo buộc đó?

Về vấn đề pháp lý, tác giả Lê Vĩnh Bình có đề cập đến khoản 2 – điều 6 Luật xuất bản hiện hành để ‘chứng minh’ tác phẩm của NXB Tự do nói chung và ‘Cẩm nang nuôi tù’ là ‘phạm pháp’ . Tuy nhiên, nguyên tắc áp dụng luật vẫn là, ‘trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó‘.

NXB Tự do và cá nhân cô Phạm Đoan Trang có thể dựa vào tiêu chuẩn nhân quyền như Điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền; Điều 19 của Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.

Trong trường hợp nếu chưa chứng minh được các tác phẩm và sự tồn tại của nhà xuất bản gây nguy hại ‘An ninh quốc gia – Trật tự công cộng – Quyền và tự do của người khác‘ trên thực tế thì nhà nước cần tiếp tục nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền tự do của công dân.

Và đó là hành xử xứng danh cho văn minh của một nhà nước, trong thế giới hiện đại.


 

 

06/01/2020

 

BẢY NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CHUYỂN ĐỔI DÂN CHỦ THÀNH CÔNG Ở BA NHÀ NƯỚC HẬU CỘNG SẢN: SERBIA, GEORGIA VÀ UKRAINE (phần 3)

 

 

Michael McFaul

Minh Tâm biên dịch

https://i2.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/6-24.jpg?resize=400%2C300&ssl=1

Nguốn ảnh: Internet

 

TÓM TẮT:

Từ những năm 2000 chứng kiến một làn sóng mới đáng ngạc nhiên về những chuyển đổi dân chủ trong các nhà nước hậu cộng sản, gồm Serbia, Georgia, và Ukraine. Bài báo này so sánh và đối chiếu ba trường hợp, xác định bảy yếu tố chung mang lại những chuyển đổi này, bao gồm: 1) các chế độ bán độc tài hơn là độc tài; 2) người lãnh đạo mất đi sự ủng hộ của người dân; 3) phong trào đối lập thống nhất và có tổ chức; 4) khả năng giám sát bầu cử độc lập; 5) truyền thông độc lập để cho người dân thấy gian lận bầu cử; 6) phe đối lập có khả năng huy động hàng trăm ngàn người biểu tình; 7) sự chia rẽ trong lực lượng vũ trang, khiến chúng không đàn áp biểu tình.

Huy động quần chúng

Yếu tố thứ sáu là khả năng của phe đối lập trong việc huy động số lượng lớn người biểu tình để phản đối kết quả bầu cử gian lận. Trong cả ba trường hợp, các nhóm sinh viên mới thành lập – Otpor ở Serbia, Kmara ở Georgia và Pora ở Ukraine – đã cung cấp sự hỗ trợ hậu cần cho các cuộc biểu tình. Tất cả các nhóm này làm việc với cả các đảng chính trị đối lập chính lẫn các NGO nhằm huy động người dân để tạo ra các cuộc biểu tình khổng lồ (lên đến hàng triệu người ở Serbia và Ukraine) buộc những kẻ cầm quyền phải từ chức.

Ở Serbia, phe đối lập đã lên kế hoạch rất tốt cho các hoạt động đường phố. Một liên minh rộng lớn của Otpor, bao gồm (?) DOS, những người đứng đầu chính quyền khu vực, lãnh đạo nghiệp đoàn, và các tổ chức xã hội dân sự đã phối hợp và huy động được cuộc biểu tình lên đến hàng triệu người vào ngày 5 tháng 10 năm 2000 ở Belgrade. Quy mô của cuộc biểu tình (dân số Serbia lúc đó khoảng 10 triệu) áp đảo bất cứ tư tưởng phản kháng nào. Trong vài giờ, lực lượng đối lập đã chiếm tòa nhà quốc hội, trụ sở cảnh sát, và đài truyền hình quốc gia. Ngày tiếp theo, Milosevic từ chức.

Trái với những người bạn Serbia của mình, người biểu tình ở Georgia kém hơn về tổ chức và số lượng (dân số của Georgia chỉ bằng một nửa của Serbia, và 1/11 dân số của Ukraine). Tuy nhiên, theo tiêu chuẩn của người Georgia, thì cuộc biểu tình đã được tổ chức tốt, khi huy động không chỉ được một lượng lớn người dân ở thủ đô Tbilisi, mà còn người dân ở mọi miền đất nước. Nhóm sinh viên, có tên gọi Kmara, mô phỏng theo nhóm Otpor của Serbia, đảm nhận vai trò lãnh đạo. Kmara lúc đó còn khá mới, vì vậy, đã không có sự chuẩn bị cho cuộc biểu như Otpor đã làm, nhưng khi cuộc bầu cử bị gian lận, Kmara đóng vai trò quan trọng hơn những gì mà những người bạn Serbia đã làm trong việc huy động người dân tham gia biểu tình. Saakashvili trở thành người phát ngôn và bộ mặt của phe đối lập. Ông sử dụng kỹ năng hùng biện và sự dũng cảm của mình để điều phối một liên minh đối lâp thống nhất mới, với sự tham gia của ba lực lượng đối lập là Kmara và hai tổ chức xã hội dân sự khác. Cuối cùng, số người biểu tình ở Tbilisi đã đạt đến “điểm ngưỡng” mà mọi người thấy rằng đàn áp đồng nghĩa với một cuộc thảm sát, một kết quả mà không kẻ nắm quyền nào – cả Shevardnadze – dám làm. So với những người bạn Serbia và Ukraine, thì những người biểu tình ở Georgia (hay ít nhất là giới lãnh đạo) cấp tiến hơn cả về đòi hỏi lẫn hành động. Ở Serbia, người biểu tình chiếm các con đường nhằm gây áp lực buộc chính quyền thừa nhận kết quả bầu cử tổng thống. Ở Georgia, Saakashvili kêu gọi và thành công trong việc không chỉ đạt được sự thừa nhận kết quả bầu cử quốc hội, mà còn trục xuất Shevardnadze, dù tổng thống không tiếp tục tái cử ở thời điểm đó. Yêu cầu trục xuất này về cơ bản là vi hiến. Giống như những người dân chủ ở Serbia, nhưng trái với các cuộc biểu tình ở Ukraine, người biểu tình đụng độ với chính quyền thông qua chiếm quốc hội.

Ở Kyiv, trong những ngày sau khi Yanukovich tuyên bố chiến thắng cuộc bầu cử gian lận, Pora và đảng “Ukraine của chúng ta” tổ chức hàng trăm lều trại gần Quảng trường Độc lập, nơi mà các nhà hoạt động và các nhà lập pháp của “Ukraine của chúng ta” dựng một sân khấu lớn. Hàng tấn lều trại, chiếu và thức ăn nhanh chóng được huy động. Sự chuẩn bị này chỉ đủ cho hàng chục ngàn người, nhưng sau đó số lượng người tham gia đã lên đến hơn một triệu người. Khi số lượng người tham gia tăng lên, những người tổ chức đã thành công trong việc giữ cho mọi người có đủ thức ăn, đồ ấm dưới mùa đông của Kyiv, với sự giúp đỡ của hàng ngàn doanh nhân nhỏ cũng như của chính quyền thành phố Kyiv (pháo đài của Yushchenko).

Sự chia rẽ trong ‘những kẻ có súng’

Yếu tố thứ bảy và cuối cùng để chuyển đổi dân chủ thành công là sự chia rẽ trong lực lượng vũ trang (quân đội và công an). Một bộ phận trong giới này đã giữ khoảng cách với lãnh đạo đương quyền và cho rằng việc sử dụng giải pháp bạo lực chứa đựng rủi ro và không thể chấp nhận được.

Ở Serbia, Milosevic kêu gọi cảnh sát địa phương tiến hành các biện pháp bạo lực chống lại các thành viên Otpor. Nhiều cảnh sát không chấp hành lệnh đó. Với việc nhiều cuộc biểu tình mới nổ ra sau khi Milosevic gian lận kết quả bầu cử tổng thống, nhiều quan chức công an và tình báo tin rằng, đàn áp bạo lực không còn là giải pháp. Vào đêm trước của cuộc tuần hành khổng lồ ở Thủ đô, chính trị gia đối lập chính, Zoran Djindjic đã thuyết phục người đứng đầu quân đội từ chối can thiệp. Điều này giúp ngăn chặn đổ máu trong cuộc tuần hành mùng 5 tháng 10, vì nhiều người biểu tình tới Belgrade đã vũ trang và sẵn sàng chiến đấu.

Phe đối lập ở Georgia đã bắt đầu tìm cách thuyết phục cơ quan an ninh rất tốt trước cuộc bầu cử 2003. Khi biểu tình nổ ra, một số quan chức công khai bỏ rơi Shevardnadze và tuyên bố họ từ chối ra lệnh cho các đơn vị dưới quyền bắt giữ người biểu tình ôn hòa. Khi đơn vị quan trọng trong Bộ nội vụ đứng về phe người biểu tình, các đơn vị khác theo sau. Kí ức về sự anh hùng của cảnh sát Georgia, khi họ cố gắng bảo vệ người dân khỏi bị quân đội Liên Xô tấn công trong các cuộc tuần hành vào năm 1989 ở Tbilisi, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc khuyến khích họ đào ngũ và đứng về phía người biểu tình vào năm 2003.

So với những người đồng cấp ở Serbia và Ukraine, Shevardnadze có lý do chính đáng hơn trong việc sử dụng vũ lực chống lại phe đối lập, vì đối lập dường như hành động một cách nổi loạn. Phe đối lập đã chiếm quốc hội, sau đó yêu cầu ông từ chức, chứ không chỉ đơn thuần không thừa nhận kết quả bầu cử quốc hội. Tuy nhiên, Shevardnadze đã kiềm chế sử dụng vũ lực. Có thể, lúc đó ông nhận ra rằng việc sử dụng quân đội để thi hành một mệnh lệnh như vậy không chỉ không thành công, mà còn có thế gây ra những quan ngại thực sự. Ở thời điểm đó, đối với Phương Tây, Shevardnadze có được sự tín nhiệm nhất định do ông đã giúp hạ nhiệt Chiến tranh lạnh khi còn làm bộ trưởng ngoại giao cho Mikhail Gorbache. Đây rõ ràng cũng là một trong các lý do khiến ông cân nhắc không muốn làm mất đi sự tín nhiệm đó bằng việc đàn áp người dân.

Ở Ukraine, mối quan hệ của giới lãnh đạo đối lập với bộ máy an ninh cũng giúp ngăn chặn nguy cơ đàn áp bằng bạo lực. Trên đường phố, khi người biểu tình và binh lính giáp mặt nhau hàng ngày, cung cách hài hước của những người thuộc tổ chức Pora đã làm giảm bớt căng thẳng. Cũng như ở Georgia, một vài đơn vị cảnh sát và tình báo tuyên bố: “súng” không được sử dụng để thực thi các mệnh lệnh đàn áp.

Tuy nhiên, sẽ là khôn ngoan khi không quá lý tưởng hóa thái độ của lực lượng an ninh trong những hoàn cảnh này. Không hẳn là thiện ý chí của họ đã giữ cho bạo lực không xảy ra, mà chính quy mô của đám đông mới là yếu tố then chốt. Các cuộc biểu tình nhỏ và thiếu tổ chức sẽ rất dễ để trở thành mục tiêu tấn công của an ninh. Hàng nghìn người biểu tình có thể bị giải tán với hơi cay và các phương tiện vũ trang. Nhưng khi đám đông lên đến hàng triệu người thì điều này là không thể.


 

 

05/01/2020

 

BẢY NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CHUYỂN ĐỔI DÂN CHỦ THÀNH CÔNG Ở BA NHÀ NƯỚC HẬU CỘNG SẢN: SERBIA, GEORGIA VÀ UKRAINE (phần 2)

 

 

Michael McFaul

Minh Tâm biên dịch

https://i2.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/6-24.jpg?resize=400%2C300&ssl=1

Nguốn ảnh: Internet

 

TÓM TẮT:

Từ những năm 2000 chứng kiến một làn sóng mới đáng ngạc nhiên về những chuyển đổi dân chủ trong các nhà nước hậu cộng sản, gồm Serbia, Georgia, và Ukraine. Bài báo này so sánh và đối chiếu ba trường hợp, xác định bảy yếu tố chung mang lại những chuyển đổi này, bao gồm: 1) các chế độ bán độc tài hơn là độc tài; 2) người lãnh đạo mất đi sự ủng hộ của người dân; 3) phong trào đối lập thống nhất và có tổ chức; 4) khả năng giám sát bầu cử độc lập; 5) truyền thông độc lập để cho người dân thấy gian lận bầu cử; 6) phe đối lập có khả năng huy động hàng trăm ngàn người biểu tình; 7) sự chia rẽ trong lực lượng vũ trang, khiến chúng không đàn áp biểu tình.

 

ĐỐI LẬP ĐOÀN KẾT

Một đối lập thống nhất là yếu tố thứ ba đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của cách mạng dân chủ. Trong suốt những năm 1990, mâu thuẫn và xung đột cá nhân xảy ra trong phong trào dân chủ Serbia đã làm giảm uy tín của phong trào. Vào tháng 1 năm 2000, các nhà đấu tranh dân chủ Serbia đồng ý đặt sang một bên những khác biệt, và hình thành một mặt trận thống nhất, có tên gọi Lực lượng Dân chủ đối lập Serbia (DOS). Quan trọng nhất, DOS đứng sau ủng hộ cho một ứng viên tổng thống, đó là Vojislav Koštunica, trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 9 năm 2000. Ở thời điểm đó, ông còn là lãnh đạo của một đảng tương đối nhỏ, Đảng Dân chủ Serbia, và không có nhiều danh tiếng. Tuy nhiên, các cuộc thăm dò cho thấy, sự tươi mới của Koštunica, cùng với chủ trương về một quốc gia hiện đại, đã biến ông trở thành một ứng viên đối lập lý tưởng. Cộng với sự ủng hộ của DOS, ông trở thành một kẻ thách thức tiềm năng (đối với Milošević) mà nhiều người dân Serbia đã mong mỏi từ lâu.

Các nhà đấu tranh dân chủ Ukraina cũng đã ý thức về sự đoàn kết trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2004. Trong nhiều thập kỷ trước đó, các lực lượng dân chủ của Ukraina chia rẽ và thiếu tổ chức. Sự hiện diện của một Đảng Xã hội chủ nghĩa mạnh đã làm cho sự thống nhất của phe đối lập trở nên phức tạp, bởi điều này khiến cho việc hợp tác với những người theo đường lối tự do trở nên khó khăn hơn. Và trong nhiều năm, cũng đã không có một lãnh đạo đối lập đủ uy tín để kết nối mọi người lại. Tuy nhiên, khá mỉa mai là, chính Kuchma đã giúp tạo ra một người lãnh đạo như vậy khi ông sa thải Viktor Yushchenko, vốn là thủ tướng của ông lúc đó, vào năm 2001. Dù được biết đến là một nhà kỹ trị hơn là một chính trị gia, Yushchenko khi còn đương chức đã làm rất tốt trong vai trò của mình, giúp cho kinh tế tăng trưởng, chính điều này khiến ông trở thành một đối thủ nguy hiểm đối với đảng cầm quyền. Khối ‘Ukraine của Chúng ta” giành được 25% số phiếu trong cuộc bầu cử quốc hội năm 2002, khiến cho các đối thủ khác chấp nhận ông trở thành thủ lãnh đối lập trong cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2004.

Với một cuộc bầu cử quốc hội theo hệ thống bầu cử tỷ lệ, lực lượng đối lập của Georgia có ít lý do để thống nhất trước ngày bầu cử. Bởi vì, theo phương pháp này, đảng nào giành được bao nhiêu phiếu bầu, thì sẽ có được bấy nhiêu ghế trong quốc hội. Chính vì vậy họ không cần liên kết với nhau để có chân trong quốc hội. Phong trào Quốc gia của Saakashvili, một cựu bộ trưởng tư pháp, là một trong ba lực lượng đối lập chính, chỉ giành được 15% số phiếu bầu. Nhưng chính trong những khoảnh khắc quan trọng của các cuộc biểu tình hậu bầu cử nhằm chống lại sự gian lận của Shevardnadze đã biến Saakashvili trở thành một nhã lãnh đạo cách mạng thực sự. Saakashvili phát ngôn rất mạnh mẽ, huy động các cuộc biểu tình rộng lớn và đưa ra các quyết định dũng cảm. Quyết định dẫn một nhóm người biểu tình xông vào tòa nhà quốc hội và làm gián đoạn bài phát biểu của Shevardnadze là một hành động cấp tiến và ít hợp hiến hơn nhiều so với những gì mà các nhà đấu tranh dân chủ Serbia hay Ukraina đã làm trước và sau đó. Đó cũng là một chiến thuật rất mạo hiểm, bởi lúc đó, nếu có một bộ phận trong phe đối lập dân chủ của Serbia phải là Georgia chứ từ chối tham gia cùng ông, thì có lẽ Shevardnadze vẫn tiếp tục ngoan cố nắm quyền.

KHẢ NĂNG GIÁM SÁT BẦU CỬ ĐỘC LẬP

Yếu tố thứ tư giúp chuyển đổi dân chủ thành công là khả năng của các NGO trong việc cung cấp số liệu chính xác và độc lập về kết quả bầu cử ngay khi bầu cử kết thúc.

Ở Serbia, Trung tâm Dân chủ và Bầu cử tự do (CeSID) đã cung cấp các dữ liệu cho thấy gian lận bầu cử trong cuộc bầu cử tổng thống vòng 1 vào tháng 9 năm 2000. Phương pháp Exit polls – tiếp xúc với cử tri khi họ rời phòng bỏ phiếu để ước lượng kết quả bầu cử – bị coi là bất hợp pháp vào năm 2000, nên CeSID tiến hành phương pháp PVT – phương pháp quan sát bầu cử, sử dụng lấy mẫu ngẫu nhiên, đại diện ở các điểm bầu cử để kiểm tra kết quả bầu cử một cách độc lập –  một kĩ thuật mới được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia chuyển đổi nhằm giám sát bầu cử. Họ cử người đại diện của mình đến 7.000 khu vực bầu cử, tại đó họ tiến hành các kĩ thuật ước lượng phức tạp về kết quả bầu cử. Ngay khi kết thúc bầu cử, các quan chức DOS thông báo kết quả của riêng họ theo phương pháp PVT, nhưng làm như vậy khi biết rằng kết quả của họ tương tự kết quả của CeSID. Mặt khác, CeSID cung cấp tính chính danh cho những tuyên bố về gian lận bầu cử của DOS. Các nhân vật của CeSID cũng ủng hộ tuyên bố của Koštunica rằng ông giành chiến thắng với hơn 50% phiếu bầu trong vòng một, vì vậy không cần chạy đua vòng hai.

Tương tự Serbia, tại Georgia, giám sát bầu cử độc lập có vai trò quyết định. Được hỗ trợ bởi nguồn quỹ quốc tế, các NGO của Georgia và các công ty khảo sát đã tiến hành Exit polls và PVT trên cả nước. Khoảng 20.000 cử tri của 500 đơn vị bầu cử được phỏng vấn, trong khi đó có khoảng 8.000 giám sát viên trong nước cũng như quốc tế quan sát cuộc bầu cử. Kết quả từ Exit polls và PVT khá tương tự nhau và chênh lệch lớn với kết quả chính thức của nhà nước. Các nhóm quan sát cũng đã ghi chép về các trường hợp gian lận bầu cử.

Ở Ukraine, Ủy ban Cử tri Ukraine (CVU) đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát cả hai vòng của cuộc bầu cử tổng thống vào năm 2004. CVU cũng tiến hành PVT. Một nhóm các công ty thăm dò, do NGO “Sáng kiến Dân chủ” điều phối, tiến hành Exit polls, dù khi làm như vậy, nhiều công ty có mối quan hệ gần gũi với chế độ của Kuchma. Không giống như ở Georgia, các tổ chức Ukraine có nhiều năm kinh nghiệm giám sát bầu cử. Tuy nhiên, họ cũng phải đối phó với những sự thao túng bầu cử tinh vi hơn, với các kĩ thuật mới lạ. Chính quyền Kuchma làm rối loạn kết quả Exit polls bằng cách thuyết phục hai công ty thăm dò sử dụng một phương pháp khác với phương pháp được sử dụng bởi hai công ty thăm dò có quan hệ gần gũi với phe đối lập. Do đó, sau bầu cử vòng hai, hai nhóm thăm dò này công bố các kết quả khác nhau. Trong khi các phương pháp định lượng thất bại trong việc cho thấy gian lận bầu cử, thì các phương pháp định tính lại giúp ích. Các giám sát viên bầu cử phối hợp với các NGO và các tổ chức quốc tế báo cáo hàng trăm các sai phạm bầu cử. Đồng thời, kết quả mà chính quyền tuyên bố ở một số khu vực phía đông (thành trì ủng hộ Kuchma) cao vô lý đến nỗi các nhà phân tích biết rằng kết quả đó chắc chắn sai. Kết hợp việc sai phạm mang tính hệ thống được ghi chép với những tuyên bố lố bịch về kết quả khiến cho một số thành viên trong Ủy ban Bầu cử Quốc Gia dũng cảm từ chối phê chuẩn kết quả cuối cùng, và chuyển vấn đề sang Tòa án Tối cao. Tòa án, khi cân nhắc trong thời điểm các cuộc biểu tình lớn nổ ra vào cuối tháng 11 và 12 năm 2004, đã sử dụng các bằng chứng mà CVU và các NGO thu thập làm cơ sở bác bỏ kết quả bầu cử chính thức, và đề nghị bầu cử lại vòng hai mà sau đó Yushchenko giành chiến thắng.

MỘT SỐ TỔ CHỨC TRUYỀN THÔNG ĐỘC LẬP

Yếu tố thứ năm cho sự thành công là sự hiện diện của truyền thông độc lập trong việc cung cấp thông tin về sai phạm bầu cử cũng như huy động người dân tham gia biểu tình.

Ở Serbia, một số tổ chức truyền thông độc lập quan trọng góp phần làm giảm uy tín của Milosevic. Từ năm 1989, Đài B-92 đưa tin một cách chuyên nghiệp và trung thực về Milosevic và chế độ của ông. Đồng sáng lập của B-92, Goran Matic, cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc thiết lập mạng lưới truyền hình địa phương nhằm đưa tin tức độc lập. Đó là mạng lưới ANEM, một nhóm các tổ chức truyền thông, bao gồm một hãng thông tấn, một vài tờ báo hàng ngày và hàng tuần, và một đài truyền hình, đã giúp mang lại thông tin mới cho người Serbia ngoài những kênh thông tin chính thống của nhà nước. Việc đưa tin trung thực và phê phán về các cuộc chiến của Milosevic, các chính sách kinh tế, cũng như các cuộc bắt giữ và đàn áp bạo lực nhắm vào những người biểu tình trẻ tuổi đã làm sói mòn sự ủng hộ của công chúng đối với ông. Vào tháng 9 năm 2000, thông qua tin tức độc lập về gian lận bầu cử, người Serbia tức giận và đổ ra đường phố biểu tình. Ở thời điểm đó, Milosevic đã đóng cửa B-92, nhưng ANEM và Radio Index vẫn đảm bảo việc đưa tin được liên tục ở Belgrade. Nếu không có các tổ chức quyền thông độc lập này, thì việc huy động người dân sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều.

Ở Georgia, truyền thông độc lập cũng đóng vai trò quan trọng. Trong nhiệm kì thứ hai, Shevardnadze đối mặt với những sự tấn công dữ dội, phơi bày sự tham nhũng của ông từ chương trình “60 phút” của đài Rustavi-2. Vào cuối năm 2003, Rustavi-2 cùng một số tổ chức truyền thông nhỏ hơn khác liên tục cập nhật và thống kê kết quả bầu cử, song song với kết quả chính thức do Ủy ban Bầu cử Quốc gia Georgia công bố. Không như các tổ chức truyền thông đối lập ở Serbia hay Ukraine, Rustavi-2 đã trở thành mạng lưới truyền thông nhiều người xem nhất ở Georgia trước thời điểm bầu cử. Khi người dân xuống đường, các máy quay của Rustavi-2 cho họ thấy tất cả. Các mạng lưới truyền thông từng trung thành với Shevardnadze cũng bắt trước theo, và nhiều người Georgia hơn nói ra điều họ thực sự nghĩ khi họ biết rằng chính quyền sẽ không sử dụng bạo lực.

Trong khi đó các lực lượng dân chủ đối lập ở Ukraine có mạng lưới truyền thông độc lập ít hơn, và phần lớn các đài truyền thông lớn do giới đầu sỏ trung thành với Kuchma và Yanukovich sở hữu, thì người Ukraina bù đắp cho sự thiếu hụt bằng Internet. Thực vậy, Cách mạng Cam có thể xem là cuộc cách mạng đầu tiên trong lịch sử được tổ chức chủ yếu trên nền tảng online. Việc truyền bá những tin tức và phân tích về chế độ Kuchma trên web riêng của Gongadze, tờ báo Ukrainskaya Pravda, vẫn tiếp tục sau khi ông bị giết. Vào cuối Cách mạng Cam, tờ báo này là nguồn thông tin được nhiều người Ukraina đọc nhất. Trong những thời khắc then chốt, vài ngày sau cuộc bỏ phiếu vòng hai, Ukrainskaya Pravda công bố kết quả thăm dò, tin tức về gian lận bầu cử, cũng như tất cả các thông tin hậu cần cho người biểu tình. Tương tự, việc gửi tin nhắn qua điện thoại, hay sử dụng các dụng cụ số cầm tay khác là công cụ quan trọng trong việc truyền thông tin đến đám đông người biểu tình ở Kyiv. Các kĩ thuật truyền thông cổ điển như truyền hình cũng đóng vai trò quan trọng cho thành công của Cách mạng Cam. Nhận thấy rằng khó có khả năng tiếp cận với truyền hình quốc gia, tỉ phú Yushchenko, người ủng hộ cho Viktor Poroshenko, có nhầm lẫn gì không? đã mua lại một đài truyền hình nhỏ vào năm 2003, sau đó đổi tên thành Channel 5. Thật đáng ngạc nhiên là chính quyền lại cho phép điều này. Chắc chắn họ sẽ ân hận khi Channel 5 tiến hành đưa tin 24/24 về cuộc biểu tình ở Kyiv sau khi kết quả bầu cử gian lận được công bố. Khi người Ukraina chứng kiến sự ôn hòa và thậm chí là vui vẻ của đám đông, đã có thêm nhiều người tham gia vào cuộc biểu tình. Và sau đó, nhân viên của hầu hết các đài truyền hình ủng hộ chế độ đã tham gia với những người biểu tình trên đường phố. Vì vậy, cũng giống như ở Georgia, truyền thông đóng vai trò quan trọng chứng minh gian lận bầu cử của chính quyền Ukraine.


 

 

04/01/2020

 

BẢY NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN CHUYỂN ĐỔI DÂN CHỦ THÀNH CÔNG Ở BA NHÀ NƯỚC HẬU CỘNG SẢN: SERBIA, GEORGIA VÀ UKRAINE (phần 1)

 

 

Michael McFaul

Minh Tâm biên dịch

https://i0.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2020/01/bacphi.gif?resize=400%2C300&ssl=1

Nguốn ảnh: Internet

 

TÓM TẮT:

Từ những năm 2000 chứng kiến một làn sóng mới đáng ngạc nhiên về những chuyển đổi dân chủ trong các nhà nước hậu cộng sản, gồm Serbia, Georgia, và Ukraine. Bài báo này so sánh và đối chiếu ba trường hợp, xác định bảy yếu tố chung mang lại những chuyển đổi này, bao gồm: 1) các chế độ bán độc tài hơn là độc tài; 2) người lãnh đạo mất đi sự ủng hộ của người dân; 3) phong trào đối lập thống nhất và có tổ chức; 4) khả năng giám sát bầu cử độc lập; 5) truyền thông độc lập để cho người dân thấy gian lận bầu cử; 6) phe đối lập có khả năng huy động hàng trăm ngàn người biểu tình; 7) sự chia rẽ trong lực lượng vũ trang, khiến chúng không đàn áp biểu tình.

Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu vào cuối những năm 1980, thì sự phát triển dân chủ ở khu vực này diễn ra với các kết quả rất khác nhau.

Các nước như Hungary, Balan, Czech trở thành các nền dân chủ tự do. Trong khi đó, các nước như Bulgaria, Croatia, Slovakia trở thành các nền dân chủ bầu cử, và đang trong nỗ lực củng cố dân chủ để trở thành các nền dân chủ tự do với sự giúp sức của EU. Tuy nhiên, càng xa về phía Đông Âu, phần lớn các chế độ đã không tiến đến dân chủ như kì vọng, mà trở thành các dạng độc tài khác nhau. Các chế độ hoàn toàn độc tài ở Trung Á như Kazakhstan, hay các chế độ độc tài cạnh tranh ở các nhà nước thuộc Liên Xô cũ như Ukraine. Vào cuối những năm 1990, thì những chuyển biến dân chủ ở khu vực này dường như chững lại.

Tuy nhiên, vào đầu những năm 2000, làn sóng dân chủ trong khu vực có được động lực mới. Vào tháng 10 năm đó, các lực lượng dân chủ ở Serbia đã lật đổ nhà lãnh đạo độc tài Slobodan Miloševic. Ba năm sau, tổng thống bán độc tài song ít đàn áp hơn của Georgia, Eduard Shevardnadze, bị lật đổ bởi phong trào quần chúng. Và năm sau, với một kịch bản tương tự, nhưng ở quy mô lớn hơn, những người đấu tranh dân chủ ở Ukraine đã lật đổ người kế vị được chọn của tổng thống sắp mãn nhiệm Leonid Kuchma.

Tất cả ba trường hợp chuyển đổi dân chủ này có một số điểm chung với nhau:

– Thứ nhất, nguyên nhân nổ ra chuyển đổi đến từ sự gian lận bầu cử, chứ không phải do chiến tranh, khủng hoảng kinh tế, hay sự chia rẽ trong chế độ.

– Thứ hai, những người đấu tranh dân chủ chỉ sử dụng các phương tiện ngoài khuôn khổ hiến pháp để bảo vệ hiến pháp dân chủ hiện hành hơn là cố gắng để viết lại toàn bộ luật chơi chính trị.

– Thứ ba, mỗi nước ở một thời điểm nào đó đã chứng kiến người đấu tranh và giới cầm quyền đưa ra các yêu sách/tuyên bố xung đột với nhau về địa vị lãnh đạo quốc gia (ví dụ cả hai đều tuyên bố chiến thắng bầu cử) – một dấu hiệu của hoàn cảnh cách mạng.

– Thứ tư, cả ba cuộc chuyển đổi thành công mà không xảy ra bạo lực quy mô lớn. Những người đấu tranh thường sử dụng một cách có ý thức các phương pháp phi bạo lực, và dù thỉnh thoảng họ sử dụng các chiến thuật ngoài hiến pháp song luôn giữ thái độ ôn hòa. Những người đương quyền dường như đã cố gắng sử dụng bạo lực bao gồm tấn công nhà báo hay các ứng viên đối lập, đóng cửa các cơ quan truyền thông. Song không ai trong số họ sẵn sàng kêu gọi quân đội hay lực lượng an ninh đàn áp người biểu tình.

Dù hoàn cảnh của những nước này lúc đó khá khác so với Việt Nam hiện nay, khi họ là các chế độ bán độc tài chứ không phải độc tài hoàn toàn như Việt Nam, song những kinh nghiệm thành công trong việc thúc đẩy chuyển đổi dân chủ hóa ở các quốc gia này, có thể mang lại cho chúng ta những bài học hữu ích trong tương lai.

Dưới đây chúng ta cùng tìm hiểu bảy nguyên nhân chính dẫn đến chuyển đổi dân chủ mà giáo sư Michael McFaul thuộc Đại học Stanford đã chỉ ra trong trong bài nghiên cứu đăng trên Tạp chí Dân chủ vào năm 2005: 1) các chế độ bán độc tài hơn là độc tài hoàn toàn; 2) người lãnh đạo mất đi sự ủng hộ của người dân; 3) phong trào đối lập thống nhất và có tổ chức; 4) khả năng giám sát bầu cử độc lập; 5) truyền thông độc lập để cho người dân thấy gian lận bầu cử; 6) phe đối lập có khả năng huy động hàng trăm ngàn người biểu tình; 7) sự chia rẽ trong lực lượng an ninh, khiến chúng không đàn áp biểu tình.

CHẾ ĐỘ BÁN ĐỘC TÀI

Tất cả các chế độ độc tài đều có thể bị sụp đổ ở một thời điểm nào đó. Tuy nhiên, nhiều dạng độc tài dễ sụp đổ hơn các dạng khác. Và nhiều học giả cho rằng, các chế độ bán độc tài, hay độc tài cạnh tranh thì dễ dân chủ hóa, hay sụp đổ hơn so với các chế độ độc tài toàn trị. Trong làn sóng dân chủ hóa hậu cộng sản, phần lớn các chế độ đều thuộc dạng độc tài cạnh tranh hoặc bán dân chủ, trong đó các thủ tục dân chủ hình thức – đặc biệt là bầu cử – chưa bao giờ bị đình chỉ. Dạng chế độ này cũng cho phép một mức độ đa nguyên và đối lập, những yếu tố đóng một vai trò quyết định đối với chuyển đối dân chủ sau đó.

Ngay cả Milosevic, một người theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và bảo thủ, giành chiến thắng qua bầu cử để trở thành tổng thống đầu tiên của Serbia và sau đó là tổng thống của Nam Tư, trong khi theo đuổi chính sách thanh lọc sắc tộc, chưa bao giờ thiết lập một chế độ độc tài toàn trị. Dù ông chèn ép phong trào đối lập, nhưng chưa bao giờ đặt họ ngoài vòng pháp luật. Thỉnh thoảng ông đóng cửa các tổ chức truyền thông độc lập, ra lệnh ám sát các nhà báo nói lên sự thật, nhưng ông cũng cho phép các tổ chức truyền thông đối lập như B-92 mở lại. Ông cho phép các tổ chức nhân quyền tiếp tục công việc của họ, và trong khi ông giả mạo kết quả bầu cử, ông chưa bao giờ ngưng tổ chức bầu cử. Các cuộc bầu cử quốc hội giúp duy trì sự tồn tại của các nhà lãnh đạo và đảng phái đối lập, ngay cả khi họ không có quyền lực và ảnh hưởng thực sự. Quan trọng hơn, các cuộc bầu cử ở cấp độ địa phương cho phép phong trào dân chủ giành được chỗ đứng trong hơn một tá các nghị viện khu vực cũng như chức vụ thị trưởng Belgrade vào năm 1996 và 1997 (dù phải sau hơn ba tháng biểu tình liên tục mới buộc Milosevic công nhận kết quả). Chính việc kiểm soát các chính phủ khu vực cũng như các cơ quan truyền thông khu vực, là một công cụ quan trọng trong việc lật đổ Milosevic vào năm 2000.

Ở Georgia, trong thời kì đầu cầm quyền của mình, Shevardnadze tạo điều kiện cho các thiết chế và tác nhân dân chủ xuất hiện, bao gồm đài truyền hình phổ biến nhất của Georgia, Rustavi-2. Dù ông cố gắng trở nên độc tài hơn sau đó, tuy nhiên những gì ông đạt được khiêm tốn hơn nhiều so với tham vọng của ông. Các nỗ lực giám sát và thu hẹp hoạt động của xã hội dân sự và truyền thông không đem lại nhiều hiệu quả, và nhiều khi có tác dụng ngược. Shevardnadze thiếu nguồn lực để có thể cai trị hà khắc hơn, và chính bản thân ông dường như không mặn mà lắm với việc đàn áp, mà có lẽ bởi quá nhiều người phê phán hàng đầu đối với ông ở thời điểm đó lại nằm trong chính phe phái của ông.

Kuchma lên nắm quyền ở Ukraine qua một cuộc bầu cử cạnh tranh vào năm 1994, trong đó ông tuyên bố rằng, mục tiêu của ông là đi đến củng cố nền dân chủ Ukraine. Tuy nhiên, cuối cùng ông đã xây dựng một ‘nền dân chủ quản lý’ – kết hợp các thực tiễn dân chủ hình thức với sự kiểm soát không chính thức tất cả các thiết chế chính trị – tương tự cách mà Putin làm ở Nga. Nhưng Kuchma chưa bao giờ có được sự ủng hộ của người dân giống như Putin, và nhiều trong số những nỗ lực tàn bạo song vụng về của ông nhằm bóp nghẹt những người chỉ trích lại dẫn đến thúc đẩy việc huy động hình thành một lực lượng đối lập mạnh hơn. Chiến dịch “Ukraine không có Kuchma” từ tháng 12 năm 2000 tới tháng 3 năm 2001 và kết quả của cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 3 năm 2002 cho thấy xã hội Ukraine rất năng động và phức tạp về chính trị. Thành công của đảng “Ukraine của chúng ta” trong cuộc bầu cử năm 2002 mang lại cho nó một vị trí trong các thiết chế nhà nước. Và chính Kuchma chưa bao giờ hoàn toàn có thể tập hợp tất cả giới chóp bu kinh tế của Ukraine vào trong chế độ của ông, và sự thất bại vào năm 2004 cho thấy sự chia rẽ giữa họ với nhau.

KẺ CẦM QUYỀN ĐÁNH MẤT SỰ ỦNG HỘ

Yếu tố thứ hai khiến cách mạng dân chủ nổ ra ở ba nước này chính là sự ủng hộ giảm sút của người dân đối với chế độ. Ở Serbia, kết quả thăm dò cho thấy chưa đến 30% cử tri ủng hộ Milosevic vào mùa hè năm 2000. Ở Georgia, vào đầu năm 2001, 82% người được phỏng vấn nói là đất nước đang đi sai đường, so với 51% của một năm trước đó. Tỉ lệ ủng hộ Kuchma giảm mạnh vào năm cuối cầm quyền của mình.

Nguyên nhân khiến cho sự ủng hộ giảm đi tùy theo từng trường hợp. Milosevic đã giành chiến thắng trong một số cuộc bầu cử tự do và công bằng, và liên tục tìm kiếm sự ủy nhiệm từ cử tri. Trong chiến dịch vận động của mình, chính ông đã thay đổi hiến pháp Nam Tư, với việc để người dân trực tiếp bầu tổng thống liên bang vào năm 2000. Tuy nhiên, một số thất bại quân sự, đỉnh điểm là sự can thiệp của Nato vào Nam Tư năm 1999, và sự suy thoái kinh tế sau đó đã làm mất đi sự ủng hộ của công chúng dành cho ông.

Shevardnadze lúc đầu cũng rất được công chúng ủng hộ. Tuy nhiên sự ủng hộ của ông sau đó cũng sụt giảm khi ông thất bại trong việc thúc đẩy nền kinh tế của Georgia, và đồng thời Rustavi-2 và các tổ chức truyền thông độc lập khác bắt đầu phơi bày sự tham nhũng ngày càng tăng trong chính quyền của ông. Shevardnadze cũng bị mất uy tín hơn nữa khi thất bại trong việc giải quyết ổn thỏa các tranh chấp về lãnh thổ ở các khu vực ly khai là Abkhazia, South Ossetia, và Ajaria.

Vào năm 1994, và sau đó là 1999, Kuchma chiến thắng trong các cuộc bầu cử tổng thống được xem là tự do và công bằng. Trong nhiệm kì thứ hai, tăng trưởng kinh tế lên mức kỉ lục 12% vào năm 2004, sau một thập kỉ suy thoái trước đó. Tuy nhiên, tham nhũng tràn lan đã làm mất đi sự ủng hộ của công chúng dành cho ông. Điển hình cho sự thối nát là sự đồng lõa rõ ràng của Kuchma – thể hiện qua các băng audio bị tiết lộ ra ngoài – trong việc bắt cóc và thủ tiêu nhà báo điều tra Georgi Gongadze vào năm 2000. Sự kiện này đã làm mất đi tính chính danh của Kuchma hơn bất cứ sự kiện nào khác.


 

 

29/12/2019

 

VAI TRÒ CỦA GIỚI CHÓP BU TRONG CÁC CUỘC CÁCH MẠNG HẬU CỘNG SẢN (phần 2)

 

 

Paul D’Anieri

Minh Tâm biên dịch

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/12/WhatsApp-Image-2019-12-28-at-09.09.38.jpeg?resize=400%2C300&ssl=1

Nguốn ảnh: Internet

 

TÓM TẮT:

Từ năm 1999, các quốc gia hậu cộng sản đã chứng kiến một loạt các nỗ lực nhằm lật đổ các chế độ bán độc tài, trong đó các cuộc cách mạng thành công được biết đến với tên gọi “Các cuộc cách mạng màu”. Tuy nhiên, không phải tất cả các cuộc nổi dậy đều thành công. Bài báo này sẽ tìm cách giải thích sự đa dạng của các kết quả. Luận điểm trung tâm ở đây là giới chóp bu. Đặc biệt là các lực lượng vũ trang, đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc cách mạng. Quan trọng hơn nhiều so với những gì từng được khẳng định trước đó. Hành động của giới chóp bu đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy các cuộc biểu tình đạt tới “điểm ngưỡng”, điểm mà tại đó số lượng người tham gia biểu tình tự động tăng lên tới mức khiến chế độ độc tài sụp đổ. Luận điểm này sẽ được kiểm chứng thông qua khảo sát, so sánh giữa hai phong trào thất bại trong việc lật đổ chế độ độc tài thông qua các cuộc biểu tình đường phố (ở Serbia 1996-1997 và Ukraine 2001) với hai phong trào thành công (ở Serbia 1999 và Ukraine 2004).

Dưới đây, chúng ta tập trung vào bốn trường hợp: các cuộc cách mạng thất bại ở Serbia năm 1996-1997 và Ukraine năm 2001, và các cuộc cách mạng thành công ở Serbia năm 2000 và Ukraine năm 2004. Với lựa chọn này, chúng ta có thể tiến hành hai so sánh: so sánh trong mỗi nước, giữa các cuộc cách mạng thành công và các cuộc cách mạng thất bại; so sánh giữa hai nước, không chỉ những điểm chung của các cuộc cách mạng thành công, mà còn của các cuộc cách mạng thất bại.

 

Serbia, 1996-1997

Vào ngày 17/10/1996, Serbia tổ chức các cuộc bầu cử địa phương, và biểu tình nổ ra ngay sau đó, bắt đầu từ thành phố Nis sau đó lan ra nhiều thành phố khác. Sự tức giận này của người dân đến từ việc kết quả bầu cử bị sửa đổi, khiến cho liên minh đối lập, Zajedno, bị cướp mất chiến thắng ở nhiều nơi, và được chuyển sang cho Đảng xã hội chủ nghĩa Serbia của Milosevic (SPS). Trong ba tháng sau đó, biểu tình gia tăng và lan rộng. Vào tháng 12, 150.000 người tham gia biểu tình ở Belgrade. Vào tháng 1/1997, biểu tình lên đến 500.000 người. Cũng giống như biểu tình ở Ukraine sau đó, những người tổ chức đã tạo ra không khí lễ hội nhằm giữ cho cuộc biểu tình tiếp tục giữa mùa đông giá lạnh. Lúc này, cuộc biểu tình đã đạt tới quy mô mà thường đem lại thành công (trong các trường hợp khác). Tuy nhiên, biểu tình đã kết thúc sau 88 ngày, sau khi các lãnh đạo đối lập và Milosevic đạt được một số thỏa thuận. Milosevic chấp nhận nhượng bộ một số kết quả bầu cử địa phương, đổi lại các lãnh đạo đối lập đồng ý ngưng biểu tình. Điều này đã gây ra chia rẽ nghiêm trọng trong nội bộ phong trào. Và dù sinh viên tiếp tục biểu tình trong tháng kế tiếp, thì về cơ bản biểu tình đã bị đánh bại.

Trường hợp này khá thú vị bởi vì người biểu tình có đủ sự hỗ trợ để duy trì cuộc biểu tình trong suốt ba tháng. Tuy nhiên, họ lại không thể kết thúc cuộc chơi mà họ có thể thắng. Milosevic áp dụng hai chiến thuật là trì hoãn và chia để trị. Bằng việc không đáp ứng yêu cầu cũng không đàn áp bạo lực người biểu tình, ông quăng gánh nặng duy trì phong trào sang phía đối lập. Ông cho rằng nếu ông trì hoãn đủ lâu, các cuộc biểu tình sẽ mất đi động lực. Ông cũng tìm cách làm suy yếu phe đối lập bằng cách chia rẽ họ, và ông đã thành công trong việc kết nạp một số lãnh đạo đối lập bằng cách đáp ứng một số yêu cầu của họ.

Trong khi phe đối lập đã thực hiện một công việc đáng khâm phục là duy trì các cuộc biểu tình, họ lại không thể tạo ra một tình thế mà Milosevic buộc phải ra đi. Để làm được như vậy, các cuộc biểu tình cần phải trở nên lớn mạnh hơn, và có khả năng đưa ra một số đe dọa thực sự (có thể bằng bạo lực) đối với Milosevic. Tuy nhiên, điều này đã không xảy ra.

Hành vi của giới chóp bu đóng vai trò quyết định trong tường hợp này. Lãnh đạo của các đảng đối lập chia rẽ, liên tục đấu đá nhau, ngay cả khi họ đang tìm cách lật đổ Milosevic. Sự chia rẽ này khiến cho một số lãnh đạo đối lập tiến hành các thỏa thuận riêng với Milosevic, rời bỏ phong trào biểu tình để đổi lấy chức vụ. Sự phản bội của Vuk Draskovic, lãnh đạo Phong trào Serbia Mới đã gây ra tâm lý chán nản, khiến cho nhiều người mất hi vọng và “điểm ngưỡng” mà phong trào hướng đến không đạt được. Trong khi giới chóp bu đóng vai trò quan trọng trong việc khiến cho các cuộc biểu tình diễn ra và duy trì chúng, thì họ cũng đóng vai trò quyết định khiến cho nó kết thúc.

 

Serbia, 2000

Vào năm 2000, một loạt các cuộc biểu tình mới xuất hiện, và cuối cùng đã thành công trong việc loại bỏ Milosevic. Nguyên nhân của đợt biểu tình lần này đến từ cuộc bầu cử tổng thống Serbia vào ngày 24 tháng 9 năm 2000. Phe đối lập thống nhất, và ủng hộ cho một ứng viên có uy tín hơn nhiều so với cuộc bầu cử trước đó, Vojislav Kostunica; và họ cũng đã tổ chức giám sát bầu cử khi biết trước Milosevic sẽ gian lận bầu cử. Kết quả chính thức cho thấy Vojislav Kostunica về nhất, nhưng không giành được đa số tuyệt đối (>50%), do đó phải tiến hành bầu cử vòng hai. Tuy nhiên, thay vì tiếp tục tranh cử vòng hai, phe đối lập thông báo rằng có gian lận bầu cử và Kostunica thắng lợi với đa số tuyệt đối trong vòng một.

Để củng cố cho yêu sách của mình, cũng như gia tăng áp lực buộc Milosevic từ chức, vào ngày 27 tháng 9 năm 2000, phe đối lập huy động 300.000 người biểu tình ở Belgrade. Và điều quan trọng lúc này là họ đã học được kinh nghiệm năm 1996-1997, đó là một mình biểu tình sẽ không thể buộc Milosevic từ chức.

– Họ kêu gọi tổng đình công, và khi những người thợ mỏ ngừng cung cấp than cho các nhà máy điện, thì rõ ràng là đất nước có nguy cơ bị đình trệ.

– Thêm nữa, vào ngày 5/10, phe đối lập chiếm hầu hết các tòa nhà chính quyền lớn ở Belgrade, bao gồm đài truyền hình, từ đó Kostunica đọc diễn văn trước cả nước.

Cùng lúc đó, trái với hành động trung thành vào năm 1996-1997, những người ủng hộ Milosevic bắt đầu đào ngũ. Đây cũng là một phần của cơ chế ngưỡng: khi khả năng Milosevic bị lật đổ càng cao, thì giới chóp bu xung quanh ông càng mạnh dạn từ bỏ ông. Ngay cả những người từng ủng hộ ông, giờ đây cũng trở nên trung lập.

Điều này thể hiện rõ trong lực lượng vũ trang, khi quân đội công khai khuyến khích người biểu tình thông qua việc đảm bảo an toàn cho họ. Tổng tư lệnh quân đội, tướng Nebojsa Pavkovic, công khai tuyên bố quân đội sẽ trung lập và ủng hộ kết quả bầu cử (tức chiến thắng cho Kostunica). Dường như lãnh đạo phe đối lập đã liên hệ với Pavkovic từ trước, và có thể đã thỏa thuận với ông ta. Thực tế cho thấy, ông ta vẫn giữ được vị trí của mình sau cách mạng.

Sự thay đổi của quân đội khiến cho trò chơi kết thúc. Phe đối lập đã kiểm soát hầu hết chính quyền, còn lực lượng vũ trang hợp tác với họ. Tất cả còn lại với Milosevic chỉ là buộc phải thừa nhận rằng ông đã thua trong cuộc bầu cử, và ông đã làm điều đó vào ngày 6 tháng 10.

 

Ukraine, 2001

Vào cuối năm 2000, một nhóm các tổ chức đối lập ở Ukraine đã tiến hành các cuộc biểu tình đường phố để buộc tổng thống Kuchma từ chức. Nguyên nhân trực tiếp là do sự liên quan của Kuchma tới việc giết nhà báo Georgiy Gongadze (một nhà báo chống tham nhũng), còn nguyên nhân sâu xa hơn đến từ sự cai trị ngày càng độc tài của ông. Nhưng các cuộc biểu tình đã không thành công trong việc gia tăng số lượng và xẹp xuống vào mùa hè năm 2001. Không giống như các cuộc biểu tình ở Serbia năm 1996-1997, vốn được xem là ‘sự thất bại đáng tiếc”, thì cuộc biểu tình này chưa bao giờ đến mức đủ để đe dọa quyền lực của Kuchma.

Tại sao lại thất bại?

– Thứ nhất, phe đối lập dù hình được thành liên minh song vẫn còn nhiều chia rẽ. Dù “Mặt trận Bảo vệ Quốc gia” đại diện cho sự thống nhất của các lực lượng đối lập ở Ukraine, song nó không nhận được sự ủng hộ từ nhân vật đối lập nổi tiếng nhất ở Ukraine lúc đó, đó là Viktor Yushchenko.

– Thứ hai, hầu hết giới chóp bu vẫn trung thành với Kuchma, đồng thời sử dụng nhiều phương tiện ngăn không cho biểu tình gia tăng. Các tổ chức truyền thông, bao gồm các tổ chức do nhà nước kiểm soát lẫn các tổ chức độc lập, không đưa tin về quy mô của các cuộc biểu tình. Từ quan điểm của mô hình ngưỡng, đây là một chiến thuật rất hữu hiệu, bởi nếu quyết định của những người trung lập phụ thuộc vào quy mô của cuộc biểu tình, thì việc không đưa tin về quy mô của các cuộc biểu tình khiến cho biểu tình khó gia tăng số lượng. Thị trưởng Kyiv, Oleksandr Omelchenko, ngăn cản việc dựng lều ở Maidan khi thông báo một dự án xây dựng vốn không nằm trong kế hoạch. Vì vậy, với việc rào quảng trường, ông đã khiến cho việc dựng lều khó khăn hơn. Khi có một kế hoạch biểu tình lớn vào ngày 10/4, thì việc di chuyển đến Kyiv đã bị ngăn chặn. Mọi người không thể mua được vé tàu, cũng như các ôtô hướng về Kyiv đều bị chặn. Tóm lại, để ngăn cuộc biểu tình, đã có sự phối hợp của của báo chí, Bộ giao thông, Bộ nội vụ, và chính quyền thành phố Kyiv. Các biện pháp này rất hữu hiệu trong việc ngăn chặn sự gia tăng số lượng người biểu tình. Do đó, không ngạc nhiên khi phong trào đã không thể lớn mạnh, và tất yếu là thất bại trong việc lật đổ Kuchma.

 

Ukraine, 2004

Vào năm 2004,  Viktor Yushchenko liên minh với các lãnh đạo đối lập khác để chạy đua cho chức vụ tổng thống, chống lại Viktor Yanukovych, ứng viên được Kuchma chọn. Sau vòng bầu cử thứ hai, Yanukovych tuyên bố thắng cử, nhưng một kết quả kiểm phiếu song song (với kết quả chính thức) cho thấy Yushchenko mới là người chiến thắng. Hơn nữa, có bằng chứng thuyết phục về sự gian lận bầu cử rộng rãi.

Một phong trào được tổ chức tốt đã lôi kéo hàng nghìn người xuống đường ở Kyiv để phản đối kết quả bầu cử. Họ tiếp tục như vậy trong ba tuần liên tiếp bất chấp thời tiết băng giá, trong khi Yushchenko, Kuchma và những người khác đang đối thoại tìm giải pháp. Kết quả là cuộc bầu cử vòng hai bị hủy và tổ chức bầu cử lại với chiến thắng thuộc về Yushchenko. Đồng thời Yushchenko cũng đồng ý với một loạt cải cách hiến pháp nhằm hạn chế nhiều quyền lực của ông.

Có một sự tương phản lớn về hành vi của giới chóp bu trong các năm 2001 và 2004. Vào năm 2001, giới này vẫn còn trung thành với Kuchma, tuy nhiên mọi thứ đã thay đổi vào năm 2004. Trước khi biểu tình diễn ra, giới chóp bu tạo thuận lợi cho người biểu tình, bởi cả những gì họ làm và không làm. Và khi biểu tình bắt đầu, giới chóp bu khuyến khích các cuộc biểu tình, trong khi gây áp lực lên Kuchma và Yanukovych.

Sự thống nhất của phe đối lập có lẽ là sự thay đổi quan trọng nhất. Đặc biệt là việc Viktor Yushchenko và Yuliya Tymoshenko tham gia lực lương đối lập, điều mà trước đó họ không muốn. Thêm nữa, lực lượng đối lập cũng nhận được sự hỗ trợ tài chính từ giới doanh nhân, những người trước kia ủng hộ Kuchma (đáng chú ý là Petro Poroshenko). Không có sự ủng hộ tài chính của “những giới đầu sỏ đối lập này”, Yushchenko có thể dễ dàng bị Yanukovych đánh bại trong cuộc bầu cử.

Tuy nhiên, thú vị hơn, trước khi biểu tình diễn ra, lực lượng vũ trang đã không phong tỏa các con đường vào trung tâm Kyiv. Sinh viên và mọi người có thể đổ về Kyiv từ mọi miền đất nước bằng tàu điện, ô tô…. Hơn nữa, giới chóp bu cũng ngầm cho thấy rằng Kyiv sẽ “để mở cho biểu tình”. Một thông điệp rõ ràng được đưa ra vào buổi sáng sau bầu cử vòng hai: Thị trưởng Oleksandr Omelchenko, người đã phong tỏa các con đường tới Maidan năm 2001, công khai tuyên bố thành phố sẽ không ngăn chặn biểu tình.

Lực lượng vũ trang cũng có vai trò rất quan trọng trong việc giúp cho biểu tình gia tăng và lan rộng. Ngay trước các cuộc bầu cử, các tín hiệu được gửi đi cho thấy biểu tình sẽ không bị đàn áp. Khi biểu tình bắt đầu, các quan chức cấp cao trong Cơ quan An ninh Ukraine (SBU) liên lạc liên tục với lãnh đạo biểu tình để đảm bảo rằng không có hành động bạo lực, khiêu khích nào xảy ra. SBU cũng công khai các cuộc nói chuyện, trao đổi qua điện thoại của những người trong đội ngũ của Kuchma, trong đó họ thừa nhận đã sửa kết quả bầu cử. Tất cả những điều này giúp cho biểu tình lan rộng.

Khi cuộc khủng hoảng diễn ra, giới chóp bu đã không còn chia rẽ (giữa ủng hộ hay không ủng hộ), mà đã chuyển sang phe đối lập. Ở khía cạnh này, chúng ta có thể thấy cơ chế ngưỡng trong giới chóp bu tương tự cơ chế ngưỡng trong đám đông: khi nhiều người hơn trong giới tinh hoa từ bỏ chính quyền, thì cơ hội tiếp tục nắm quyền của kẻ cầm quyền giảm đi, và rủi ro của việc ủng hộ tăng lên (nếu kẻ cầm quyền thất bại), do đó khuyến khích giới này từ bỏ chính quyền. Ví dụ, vào ngày 29/11, quản lý chiến dịch của của Yanukovych, là Serhiy Tyhypko từ chức, và thừa nhận có gian lận bầu cử. Giống như nhiều người khác, Tyhypko đã tính toán tương lai chính trị của bản thân về thời kì hậu Kuchma, và đã đưa ra quyết định như vậy. Cùng ngày, chính tổng thống Kuchma thông báo ủng hộ việc tổ chức lại bầu cử vòng hai, điều đã phá hủy sự ủng hộ cuối cùng dành cho Yanukovych.

 

So sánh các trường hợp

Việc so sánh các cuộc biểu tình thất bại vào năm 1996-1997 với cuộc cách mạng thành công vào năm 2000 ở Serbia, cũng như các cuộc biểu tình thất bại vào năm 2001 với cuộc cách mạng thành công vào năm 2004 ở Ukraine, mang lại nhiều bài học ý nghĩa. Trong cả hai nước, các cuộc biểu tình thất bại có nhiều điểm chung với các cuộc biểu tình thành công sau đó. Ở đây chúng ta có thể rút ra một số kết luận từ việc so sánh giữa Ukraine và Serbia như sau.

 

Sự thống nhất của phe đối lập

Trong cả hai nước, có một sự thay đổi lớn về lập trường trong giới tinh hoa đối lập giữa hai đợt biểu tình. Cụ thể ở Serbia, sự chia rẽ trong giới tinh hoa đối lập được xem là nguyên nhân chính dẫn đến thất bại trong các cuộc biểu tình vào năm 1996-1997, và điều này khiến cho họ hiểu ra sự cần thiết phải thống nhất và đoàn kết. Tương tự ở Ukraine, việc Yushchenko không muốn tham gia phe đối lập khiến cho họ không có đủ sức mạnh để lật đổ Kuchma, không chỉ trong các cuộc biểu tình năm 2001, mà còn trong các cuộc bầu cử quốc hội vào năm 2002. Với uy tín rộng rãi của mình, nên việc ông ủng hộ Kuchma vào năm 2001 đã làm phe đối lập ở thế yếu, tương tự như sự trở cờ của Vuk Draskovic (khi bắt tay với Milosevic) làm suy yếu phe đối lập ở Serbia năm 1997.

 

Sự đào ngũ (trở cờ) của giới chóp bu trong chế độ

Sự đào ngũ của giới này thể hiện ở hai giai đoạn.

–  Thứ nhất, trong suốt tiến trình, họ cung cấp sự hỗ trợ tài chính cho phong trào và các đảng đối lập. Sự hỗ trợ này không chỉ giúp phe đối lập có đủ thực lực để cạnh tranh bầu cử, thậm chí ngay cả khi cuộc chơi không công bằng, mà còn giúp chuẩn bị cho các cuộc biểu tình, vốn được triển khai hiệu quả ngay sau bầu cử. Sức mạnh và khả năng thắng cử của phe đối lập buộc chính quyền phải gian lận bầu cử. Và điều đó đã biến cuộc bầu cử trở thành cơ hội chính trị cực kì tốt cho việc huy động người dân.

– Thứ hai, khi các cuộc biểu tình xảy ra, sự đào ngũ của giới chóp bu (từng ủng hộ chính quyền) đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho cuộc biểu tình đạt điểm ngưỡng. Giới chóp bu kinh tế cung cấp ủng hộ tài chính cho phe đối lập, trong khi giới chóp bu chính trị cung cấp tính chính danh cho phe đối lập, cũng như sự đào ngũ của những nhân vật chóp bu quan trọng trong chế độ giúp làm xói mòn tính chính danh của chế độ; còn giới chóp bu trong lực lượng vũ trang hỗ trợ biểu tình dễ dàng hơn khi từ chối ngăn chặn biểu tình.

 

Biểu tình được tổ chức tốt (cộng với sự hỗ trợ của giới chóp bu)

Một trong những nguyên nhân thành công, đó là khả năng tổ chức biểu tình rất tốt, với các tổ chức nổi bật như Otpor ở Serbia, hay Pora ở Ukraine (mô phỏng theo Otpor). Họ không chỉ huy động được số lượng người tham gia đông đảo, lên đến hàng trăm ngàn, mà còn duy trì được các cuộc biểu tình này trong nhiều tháng trời. Rõ ràng rằng, các cuộc biểu tình như vậy đã gây áp lực rất lớn đối với chế độ, ảnh hưởng quan trọng với sự thành công của cách mạng. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, các cuộc biểu tình được tổ chức tốt, là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho thành công. Chúng ta đã thấy vào năm 1996-1997, các cuộc biểu tình huy động được 500.000 người tham gia nhiều tháng, song vẫn không lật đổ được Milosevic.

 

Lực lượng vũ trang

Có lẽ sự khác biệt lớn nhất giữa các cuộc biểu tình thành công và các cuộc biểu tình thất bại đến từ vai trò của lực lượng vũ trang. Khi mà lực lượng vũ trang còn trung thành với chính quyền, người lãnh đạo sẽ cố gắng chờ đợi cho đến khi phong trào xẹp xuống. Đây là điều mà Milosevic đã làm vào năm 1996-1997. Chỉ khi lực lượng vũ trang bị chia rẽ, trở nên trung lập, hoặc thậm chí quay sang đứng về phía người biểu tình, thì những người cầm quyền mới dễ bị tổn thương, khi họ bị đặt vào hoàn cảnh mà việc tiếp tục bám víu quyền lực không còn là một lựa chọn tối ưu cho họ.

 

KẾT LUẬN:

Rõ ràng rằng, các cuộc biểu tình rộng lớn là nền tảng cho sự thành công của các cuộc cách mạng. Tuy nhiên giới chóp bu đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định liệu các cuộc biểu tình này có trở nên lớn hơn hay sẽ suy yếu và xẹp đi.

Nhìn chung, có một mối quan hệ rõ ràng giữa hành vi của giới chóp bu và sự tham gia của người dân: bằng cách gia tăng cơ hội thành công của các cuộc biểu tình, và giảm thiểu rủi ro cho việc tham gia biểu tình, tức việc bị đàn áp. Giới chóp bu (trước đó ủng hộ chế độ, giờ thay đổi thái độ) đã khiến cho các cuộc biểu tình dễ dàng đạt được “điểm ngưỡng” mà ở đó các cuộc biểu tình tự động gia tăng và duy trì.

Việc hỗ trợ cho phong trào, công khai những sai trái của chế độ, hình thành một phong trào đối lập thống nhất, cho phép biểu tình xảy ra, cũng như ngầm cho người  biểu tình hiểu rằng họ sẽ không bị đàn áp. Tất cả những điều đó khiến cho mọi sự tính toán thiệt hơn nghiêng về phía có lợi cho việc tham gia biểu tình, và vì vậy thúc đẩy nhiều người hơn tham gia vào các cuộc biểu tình.

Ngoài ra, áp lực nội bộ của giới chóp bu lên người đương nắm quyền, cũng góp phần kết thúc trò chơi. Bằng việc thuyết phục người cầm quyền rằng, không còn giải pháp nào khác, và ra đi là cách tốt nhất cho họ (để tránh những kết quả xấu hơn, cho cả bản thân họ cũng như phe nhóm của họ) đã góp phần kết thúc trò chơi.

Rõ ràng rằng, lựa chọn của giới tinh hoa (trung thành hay chống lại) quan trọng trong việc làm xói mòn nền tảng của người cầm quyền, quyết định thành công của cách mạng, bên cạnh vai trò quan trọng của các cuộc biểu tình rộng lớn.

Lưu ý: không chỉ các nhà cách mạng có thể học các bài học từ những ví dụ trên, và áp dụng cho tương lai; như Pora học từ Otpor…; mà chính các nhà độc tài cũng học hỏi những điều như vậy.

Nga, Belarus và nhiều nước khác đã tiến hành các biện pháp ngăn chặn trước nhằm đảm bảo “các yếu tố” của “cách mạng màu” không xuất hiện trên đất nước của họ. Cuộc bầu cử năm 2006 ở Belarus là một ví dụ: phong trào đối lập tìm cách bắt chước các chiến thuật thành công ở Ukraine, trong khi tổng thống Lukashenka tìm cách học từ cách sai lầm của chính quyền Kuchma.

Do đó, để thành công, việc học những bài học trong quá khứ là cần thiết, tuy nhiên, cần phải học với sự sáng tạo, linh hoạt để có thể vượt lên trên đối thủ của mình (những kẻ cũng học các bài học từ quá khứ).


 

 

24/12/2019

 

VAI TRÒ CỦA GIỚI CHÓP BU TRONG CÁC CUỘC CÁCH MẠNG HẬU CỘNG SẢN (phần 1)

 

 

Paul D’Anieri

Minh Tâm biên dịch

https://i0.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/12/WhatsApp-Image-2019-12-24-at-11.13.36.jpeg?resize=400%2C300&ssl=1

Nguốn ảnh: Internet

 

TÓM TẮT:

Từ năm 1999, các quốc gia hậu cộng sản đã chứng kiến một loạt các nỗ lực nhằm lật đổ các chế độ bán độc tài, trong đó các cuộc cách mạng thành công được biết đến với tên gọi “Các cuộc cách mạng màu”. Tuy nhiên, không phải tất cả các cuộc nổi dậy đều thành công. Bài báo này sẽ tìm cách giải thích sự đa dạng của các kết quả. Luận điểm trung tâm ở đây là giới chóp bu. Đặc biệt là các lực lượng vũ trang, đóng một vai trò quan trọng trong các cuộc cách mạng. Quan trọng hơn nhiều so với những gì từng được khẳng định trước đó. Hành động của giới chóp bu đóng vai trò quyết định trong việc thúc đẩy các cuộc biểu tình đạt tới “điểm ngưỡng”, điểm mà tại đó số lượng người tham gia biểu tình tự động tăng lên tới mức khiến chế độ độc tài sụp đổ. Luận điểm này sẽ được kiểm chứng thông qua khảo sát, so sánh giữa hai phong trào thất bại trong việc lật đổ chế độ độc tài thông qua các cuộc biểu tình đường phố (ở Serbia 1996-1997 và Ukraine 2001) với hai phong trào thành công (ở Serbia 1999 và Ukraine 2004).

 

GIỚI THIỆU

Bắt đầu với Serbia năm 1999 và gần đây hơn là Kyrgyzstan năm 2005, một loạt các cuộc cách mạng đã xảy ra trong thế giới hậu cộng sản, trong đó các chế độ bán độc tài – hậu toàn trị (trước đó nằm dưới sự cai trị của các chế độ cộng sản toàn trị) đã bị lật đổ thông qua các cuộc biểu tình quần chúng lớn trên đường phố. Các học giả, nhà báo và các nhà làm chính sách đã dành nhiều công sức để giải thích các cuộc cách mạng này, với hi vọng có thể tìm ra một ‘công thức’ để lật đổ các chế độ độc tài.

Nghiên cứu này cũng hướng đến mục đích như vậy, trong đó nhấn mạnh vào vai trò của giới chóp bu trong chính quyền, đặc biệt là lực lượng vũ trang. Trong khi mọi người thường nhấn mạnh đến ‘sự huy động tự phát quy mô lớn’ của người dân đối với thành công của cách mạng, họ đã không nhận thấy rằng, chính giới chóp bu trong chính quyền mới là tác nhân quyết định liệu sự huy động/nổi dậy đó có lớn mạnh và thành công, hay sẽ suy yếu và thất bại.

Trong các trường hợp của Serbia năm 1999, Georgia năm 2003 và Ukraine năm 2004, giới chóp bu (trong chính quyền) không đơn thuần bỏ rơi những người lãnh đạo nhằm tránh một cuộc đổ máu, mà họ đã tích cực hỗ trợ các cuộc biểu tình. Họ không chỉ từ chối thực hiện các biện pháp ngăn chặn các cuộc biểu tình từ sớm (nhằm giữ cho các cuộc biểu tình chỉ ở quy mô nhỏ), mà còn khuyến khích người biểu tình bằng việc cho thấy rằng họ sẽ không sử dụng vũ lực để đàn áp. Chính vì vậy mà những cuộc biểu tình này đã nhanh chóng đạt đến ‘điểm ngưỡng’, điểm mà mọi người cảm thấy an toàn khi tham gia biểu tình, và vì vậy đã khiến cho cuộc biểu tình ngày càng lớn hơn, đến mức nhà lãnh đạo độc tài không còn lựa chọn nào khác ngoài việc từ bỏ quyền lực.

Trong các trường hợp khác, như ở Serbia năm 1997, Ukraine năm 2001, và Azerbaijan năm 2003, giới chóp bu vẫn trung thành với tổng thống, và lực lượng vũ trang đã thực hiện các biện pháp nhằm ngăn không cho các cuộc biểu tình đạt tới ‘điểm ngưỡng’, điều này khiến cho các cuộc biểu tình nhanh chóng xẹp xuống và thất bại.

Vì vậy, rõ ràng rằng sự thành công của các cuộc cách mạng hậu cộng sản có vai trò quan trọng của giới chóp bu trong chính quyền.

 

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Lý thuyết biểu tình và cơ chế ngưỡng

Một trong những lý thuyết phổ biến dùng để giải thích biểu tình và cách mạng là ‘mô hình ngưỡng’. Mô hình này tập trung vào giải thích tại sao một số cuộc biểu tình ngày càng trở nên lớn hơn, trong khi một số khác thì không thể đạt được như vậy, chỉ gia tăng tới một điểm nào đó rồi xẹp xuống.

Mô hình này dựa trên hai ý tưởng cơ bản:

– Thứ nhất, các cá nhân sẽ đắn đo cân nhắc khi quyết định có tham gia biểu tình hay không. Các cá nhân khác nhau có ‘ngưỡng’ khác nhau – tức là mức chịu đựng khác nhau khi quyết định tham gia biểu tình;

– Thứ hai, những cân nhắc này sẽ phụ thuộc vào số lượng người đang tham gia biểu tình. Khi có nhiều người hơn tham gia, thì khả năng người biểu tình bị đàn áp giảm xuống, và vì vậy sẽ có nhiều người hơn nữa tham gia, và cơ hội thành công sẽ tăng lên.

Câu hỏi đặt ra là khi nào tiến trình này đạt “điểm ngưỡng”, tức thời điểm cuộc biểu tình tự động tăng lên?

Khi có thêm một người tham gia vào, khả năng thành công tăng lên đồng nghĩa với việc ngưỡng của những người biểu tình khác cũng tăng lên, và vì vậy họ sẽ tham gia vào cuộc biểu tình. Và cứ tiếp tục như thế với những người khác. Hay là việc thêm vào một người sẽ không thay đổi cơ hội thành công đủ để khiến cho chuỗi phản ứng trên diễn ra?

Cơ chế vận hành này có thể được minh họa thông qua câu nói của Oleksandr Omelchenko, thị tưởng thành phố Kyiv, với phụ tá của Viktor Yushchenko vào lúc khởi đầu của Cách mạng Cam: “Nếu bạn mang cho tôi 100.000 người, thì tôi sẽ tham gia với bạn, và chúng ta sẽ có cơ hội giành được quyền lực. Nếu chỉ có 99.000, tôi sẽ không tham gia”.

Từ trên, ta thấy hai dạng chu kì tự củng cố có thể xảy ra:

– Khi triển vọng tăng, nhiều người hơn sẽ tham gia vào biểu tình. Điều này tăng cơ hội thành công, và vì vậy nhiều người hơn nữa tham gia, cứ như thế.

– Trái lại, nếu mọi người hoài nghi về sự thành công, họ sẽ không tham gia. Điều này giảm đi cơ hội thành công, vì vậy chính những người tham gia cũng sẽ từ bỏ, và cứ như thế. Theo chu kỳ này, các cuộc biểu tình cuối cùng sẽ xẹp xuống hoàn toàn, như từng xảy ra ở Serbia năm 1996-1997 và Ukraine năm 2001.

Từ viễn cảnh trên, câu hỏi chính ở đây là liệu người tổ chức biểu tình có thể gia tăng sự tham gia đến “điểm ngưỡng” mà ở đó cuộc biểu tình sẽ tự củng cố, hay liệu chính quyền có thể giữ cho sự tham gia ở bên dưới ngưỡng.

Trong bài viết này, để hiểu sự thành công và thất bại của các cuộc cách mạng hậu cộng sản, chúng ta sẽ tìm hiểu tại sao ngưỡng lại có thể đạt được trong một số trường hợp, trong khi không đạt được trong những trường hợp khác.

Thời cơ chính trị và huy động

Đối với những nhà cách mạng thì việc huy động đủ người bất mãn cho đến khi đạt được điểm ngưỡng là một thách thức, vì sau đó cuộc biểu tình sẽ tự động gia tăng. Để làm được như vậy, trước tiên chúng ta tìm hiểu hai khái niệm: năng lực huy động và thời cơ chính trị.

– “Năng lực huy động” liên quan đến khả năng (về mặt tổ chức) của phong trào trong việc thuyết phục người dân tham gia biểu tình, phối hợp các hoạt động, cũng như hỗ trợ vật chất cho cuộc biểu tình.

– “Thời cơ chính trị” là thời cơ mà việc huy động để có thể thành công. Thường liên quan đến cả mức độ đàn áp (sự an toàn khi tham gia biểu tình) lẫn các sự kiện hay chính sách cụ thể khiến cho (người dân tức giận, sẵn sàng tham gia) việc huy động trở nên dễ dàng hơn. Và gian lận bầu cử là một ví dụ về thời cơ chính trị.

“Năng lực huy động” tốt rõ ràng là một yếu tố quan trọng trong các cuộc ‘cách mạng màu”. Trong các trường hợp thành công, phe đối lập với ngân sách và tổ chức tốt, có thể tổ chức để nhiều người xuống đường hơn, duy trì biểu tình lâu dài và tiến hành các hoạt động thách thức chế độ hữu hiệu hơn. Tại Georgia năm 2004, cũng như ở Ukraine và Serbia trước đó, khả năng tổ chức biểu tình đã làm ngạc nhiên cả các nhà quan sát lẫn chính quyền.

Tương tự, “thời cơ cách mạng” đóng vai trò quan trọng. Trong các cuộc cách mạng thành công kể trên, gian lận bầu cử tạo điều kiện cho phe đối lập tập trung sự chú ý của người dân vào hành vi sai trái này của chính quyền, thổi bùng sự tức giận của họ. Rõ ràng rằng, gian lận bầu cử đã cung cấp một “thời cơ chính trị” lý tưởng.

Vai trò trụ cột của giới chóp bu

Giới này không chỉ bao gồm lãnh đạo của lực lượng vũ trang, vốn cực kì quan trọng, mà còn bao gồm các nhân vật quan trọng khác trong chính quyền (ví dụ: các bộ trưởng), giới doanh nhân, chủ của các cơ quan truyền thông,… tất cả họ góp phần khiến cho các cuộc biểu tình đến gần hơn hay ra xa hơn điểm ngưỡng, qua đó ảnh hưởng đến thành công cũng như thất bại của chúng.

Chẳng hạn, thị trưởng và hội đồng thành phố Kyiv, đã góp phần quan trọng vào thành công của cuộc Cách mạng Cam năm 2004, khi phủ nhận kết quả bầu cử tổng thống vòng hai. Điều này không chỉ làm xói món tính chính danh của chính quyền, mà còn khiến cho những người biểu tình tiềm năng thấy rằng chính quyền thành phố sẽ ủng hộ, hoặc ít nhất, không ngăn cản họ, khiến cho họ sẵn sàng tham gia biểu tình.

Rõ ràng rằng, giới chóp bu đóng vai trò quyết định trong việc cuộc biểu tình có đạt “điểm ngưỡng” hay không, và qua đó quyết định sự thành công của biểu tình.

“Điểm ngưỡng” trong các cuộc các mạng màu

Nhìn chung, để thành công, phe đối lập phải làm được hai điều này:

– Thứ nhất, phải huy động được số lượng người biểu tình đủ lớn và duy trì được họ đủ lâu để tạo áp lực lên chính quyền;

– Thứ hai, biến các cuộc biểu tình này trở thành yếu tố chi phối trong tính toán của người cầm quyền, khiến cho họ đi đến quyết định rằng tốt hơn hết là từ bỏ quyền lực. Nói cách khác, phe đối lập phải có khả năng dứt điểm cuộc chơi.

Việc thất bại của các cuộc biểu tình chống lại Milosevic vào năm 1996-1997 cho thấy, nếu chỉ huy động hàng ngàn người xuống đường trong thời gian dài sẽ không tự động buộc người cầm quyền từ bỏ quyền lực. Kẻ cầm quyền chỉ làm như vậy khi nhận thấy việc từ bỏ quyền lực sẽ tốt hơn việc chờ đợi với hi vọng người biểu tình sẽ bị đàn áp hoặc tự giải tán. Điều này đòi hỏi phe đối lập phải tạo ra những răn đe thực sự, như bắt giữ, bỏ tù hoặc giết chết nếu người cầm quyền từ chối từ bỏ quyền lực; kết hợp với những khuyến khích như miễn truy tố, chia sẻ quyền lực, hay đối thoại bàn tròn nếu kẻ cầm quyền chịu từ bỏ quyền lực.

 

CÁC TRƯỜNG HỢP

“Gian lận bầu cử” đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình lật đổ chế độ ở khắp nơi trên thế giới, bắt đầu với cuộc cách mạng ‘quyền lực nhân dân” lật đổ chế độ độc tài của Marcos vào năm 1986 tại Philippines. Trong thế giới hậu cộng sản, có ít nhất 8 nỗ lực cách mạng như vậy; trong đó 4 cuộc cách mạng thành công, được biết đến với tên gọi là “các cuộc cách mạng màu”; đồng thời cũng có một số nỗ lực khác không thành công trong việc sử dụng các cuộc biểu tình đường phố nhằm lật đổ các nhà lãnh đạo độc tài:

– Serbia, 1996-1997: tức giận với các gian lận trong cuộc bầu cử địa phương, người dân Nam Tư đã biểu tình ở nhiều thành phố. Các cuộc biểu tình này kéo dài nhiều tháng và gia tăng về quy mô, tuy nhiên, đã không buộc được Milosevic từ bỏ quyền lực. Đến đầu năm 1997, các cuộc biểu tình suy yếu và chấm dứt.

– Serbia, 2000: sau kết quả bầu cử tổng thống gian lận, biểu tình gia tăng đã buộc tổng thống Milosevic từ chức.

– Ukraine, 2001: sau một loạt những bí mật bị tiết lộ về các hành vi sai trái của tổng thống Leonid Kuchma, một phong trào có tên gọi “Ukraine không Kuchma” đã tổ chức các cuộc biểu tình đường phố, tuy nhiên phong trào nhanh chóng thất bại.

– Georgia, 2003: sau cuộc bầu cử tổng thống gian lận, người Georgia biểu tình, và thành công trong việc buộc tổng thống Eduard Shevardnadze từ chức.

– Azerbaijan, 2003: sau cuộc bầu cử tổng thống gian lận, người biểu tình đổ ra đường để buộc Ilham Aliyev từ bỏ quyền lực. Các cuộc biểu tình bị lực lượng vũ trang ngăn chặn và cuối cùng chấm dứt.

– Ukraine, 2004: sau cuộc bầu cử gian lận, các cuộc biểu tình buộc chính quyền đồng ý một điều khoản bao gồm tổ chức lại cuộc bầu cử tổng thống vòng hai cũng như thay đổi hiến pháp (và lãnh đạo phe đối lập đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử này).

– Kyrgyzstan, 2005: sau cuộc bầu cử quốc hội được cho là không công bằng, các cuộc biểu tình đường phố buộc tổng thống Askar Akayev từ chức và rời khỏi đất nước.

– Uzbekistan, 2005: sau vụ bắt giữ một doanh nhân nổi tiếng ở Andijan, người Uzbeks xuống đường biểu tình, sau đó mở rộng yêu cầu của mình bao gồm phóng thích mọi tù nhân chính trị. Tuy nhiên, họ bị đàn áp bằng bạo lực, khoảng 700 người đã bị giết.


 

 

12/12/2019

 

SÁCH “PHẢN ĐỘNG” VÀ NHỮNG CHUYỆN CƯỜI RA NƯỚC MẮT

 

Facebook Phạm Doan Trang

(Ba câu chuyện có thật, với ba người đọc khác nhau).

1.

Công an “vồ” được một shipper và lấy được trong (túi) quần anh danh sách người nhận sách của NXB Tự Do. Một đơn vị công an được triển khai tức tốc đến một địa chỉ trong đó, yêu cầu gia chủ nộp lại sách.

Chủ nhà chối: Tôi đâu biết.

Công an: Anh đặt mua sách phản động. Tên với số điện thoại, địa chỉ lù lù đây mà anh còn chối được à? Hả?

Chủ nhà: Thằng nào nó mượn tên tôi mua sách, tôi biết đâu được.

Công an: Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng. Anh thành thật thì hơn, làm sai thì nhận lỗi chứ có gì phải sợ. Anh đừng để tới lúc chúng tôi phải dùng biện pháp mạnh. Tội của anh cũng nhẹ thôi, 6-7 năm tù chứ mấy.

Vợ của chủ nhà từ trong phòng chạy ra, oà khóc: Em xin các anh. Thôi để em nhận, em nhận. Chính em là người mua sách đây. Em lấy tên và điện thoại của anh ấy để đặt hàng.

Chủ nhà: Ơ kìa. Em buồn cười nhỉ? Em im đi, ai khiến em nhận?

Công an (được thể): Đấy, anh thấy chưa? Anh làm rồi không dám nhận, để chị ấy lại phải gánh.

Chủ nhà (gầm lên): Tôi đã bảo chúng tôi không mua cơ mà.

Công an (nghiêm mặt): Đến nước này là lớn chuyện rồi đấy. Mời anh chị lên đồn làm việc. (Quay sang cô vợ) Nói rồi, tội của anh đây thì cũng nhẹ thôi, 6-7 năm tù chứ mấy. Chị khuyên anh ấy hợp tác đi.

Chủ nhà: Tôi không đi đâu cả.

Vợ chủ nhà (khóc lóc): Thôi anh ấy không đi thì để em đi.

Chủ nhà (mệt mỏi): Thôi được rồi, các anh chờ chút, tôi thay quần áo rồi lên đồn.

Công an: Anh thay đi. Cho anh 10 phút. Chúng tôi chờ.

2.

Công an: Anh chủ động giao nộp sách thế là tốt. Nhưng hình như anh vẫn còn để mấy cuốn ở nhà? Chúng tôi ghi nhận được việc anh đặt mua sách tới ba lần cơ đấy.

Người đọc: Tôi không biết. Tôi chỉ đặt cuốn “Phản kháng phi bạo lực”, và đã nộp lại các anh rồi.

Công an: Anh vẫn còn sách nữa. Hay là anh để chúng tôi kiểm tra nơi ở của anh xem sao. Nếu thật sự anh không có gì giấu giếm thì sao phải sợ nhỉ?

Người đọc bắt đầu nóng mặt: Này, các anh muốn gì?

Công an (ôn tồn): Chúng tôi chẳng muốn gì, chỉ muốn tốt cho anh và gia đình.

Người đọc (nổi cáu): Muốn tốt cho chúng tôi là mời tôi lên đồn thế này à? Các anh vừa phải thôi chứ. Tôi đã nộp lại sách rồi, các anh còn đòi khám nhà. Đến quốc tế người ta còn phải phản đối kia kìa.

Công an: Ấy, anh cứ nói quá. Ai đã làm gì anh đâu mà anh cứ nói thế cho nó nặng nề ra. Không phải khám nhà mà là kiểm tra nơi ở thôi. Anh đừng nặng nề thế.

Người đọc: Thì tôi cũng đã hợp tác hết lòng rồi. Tôi mua sách để đọc, lúc mua ai biết là sách cấm đâu. Bây giờ các anh bảo cấm thì tôi nộp lại. Tôi hợp tác thế rồi thì các anh thôi đi chứ. Cấm gì cấm lắm thế.

Công an: Khổ quá, anh lại nặng nề rồi. Không phải sách cấm mà là sách lậu. Anh dùng từ cho chuẩn nhé.

Người đọc: !!!

3.

Công an: Đây là sách do đối tượng phản động viết ra nhằm hướng dẫn người dân lật đổ chế độ. Sách bị thu hồi. Yêu cầu anh nộp lại.

Người đọc: Vâng, tôi xin nộp lại cuốn sách. Xin các anh 300 ngàn đồng.

Công an (trợn mắt): Sao lại 300 ngàn?

Người đọc: Tiền tôi mua sách ạ. Tôi trả trước rồi. Bây giờ gửi sách lại cho các anh thì đề nghị các anh thanh toán lại số tiền tôi đã trả.

Công an (cáu kỉnh): Anh đi mà đòi tiền bọn nhà xuất bản ấy. Chúng tôi tịch thu chứ có mua lại đâu.

Người đọc: Thôi được rồi. Coi như tôi mất tiền. Haizzz…

Sau đó, khi về nhà, người đọc này đã tặng NXB thêm 15 triệu đồng, và NXB cũng đã gửi lại sách cho anh để đền bù mấy cuốn bị công an lấy mất.

https://www.facebook.com/pham.doan.trang/posts/10158120510058322

 

 

02/12/2019

 

Nhà báo Phạm Đoan Trang “Chúng tôi muốn khẳng định viết và đọc sách là quyền không thể bị cưỡng đoạt”
Tuấn Khanh’ s blog

 

 

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/12/b4300d82-9d27-4587-85c4-4455fc39b0cc.jpeg?resize=500%2C300&ssl=1

Hình minh hoạ: Nhà báo Phạm Đoan Trang và giải thưởng của RSF năm 2019.

Câu chuyện một nhà xuất bản (NXB) ở Việt Nam tự in và phát hành nhiều tác phẩm không qua kiểm duyệt, đã trở thành một sự kiện quốc tế. Bởi lẽ, gần 100 người mua sách từ Nam chí Bắc đã bị phía an ninh Việt Nam đặt vào tình trạng như tội phạm. Phạm Đoan Trang, tác giả nhiều cuốn sách cùng NXB Tự Do – nơi in và phát hành – bị săn đuổi ráo riết. Hai tổ chức Theo Dõi Nhân quyền (HRW) và Ân Xá Quốc Tế (AI) cũng đồng loạt ra thông cáo trong tháng 11/2019, trong đó phản đối công an Việt Nam về các vụ vây bắt, dẫn đến cả việc hành hung cả độc giả và người giao sách.
Thật ngạc nhiên, nếu so với những ấn phẩm khác như Đèn Cù (Trần Đĩnh), Bên Thắng Cuộc (Huy Đức) hay mới nhất là cuốn Thế thiên hành đạo hay Đại nghịch bất đạo (Phạm Thành)… thì những cuốn sách của NXB Tự Do và nhà báo Phạm Đoan Trang hoàn toàn vô hại, chỉ là sách kiến thức thuần túy.
Cuộc trò chuyện với nhà báo Phạm Đoan Trang từ một nơi nào đó, lưu lạc vô định cho công việc của cô, đã mở ra nhiều góc nhìn thú vị về sự kiện này.

Tuấn Khanh: Đoan Trang có thể tóm tắt cho biết tình hình của của mình ở giai đoạn gần đây, và nếu được thì cho thêm những thông tin về NXB Tự Do.

Đoan Trang: Tôi may mắn được trao giải tự do báo chí của tổ chức RSF vào tháng 9/2019, nhưng cũng vào giờ phút nhận giải ấy, tôi tin rằng sự căm ghét của công an đối với tôi cũng tăng lên rất nhiều. Và từ đó, họ ghép tôi là có dính líu sâu xa với nhà xuất bản (NXB) Tự Do, mặc dù NXB này là một tổ chức độc lập, không làm việc riêng cho cá nhân nào, đảng phái hay tổ chức chính trị nào. Công an ghép tôi và NXB Tự Do vào một suy nghĩ chung là “phản động”. Thật ra, NXB Tự Do ngay từ ngày đầu thanh lập (14-2-2019) đã bị đàn áp rất nhiều. Facebook của họ bị đánh sập, các hoạt động thường ngày như mua bán, phát hành đã bị ngăn cản, rượt đuổi. Đến tháng 7, thì tất cả các tài khoản ngân hàng của họ đều bị khóa một cách vô lý. Phía ngân hàng chỉ thông báo đơn giản là tài khoản này đã bị vô hiệu, không thể hoạt động. Những người đi giao sách bị săn đuổi, gài bẫy rất nhiều. Đến tháng 10, nhiều người giao sách ở Sài gòn và miền Trung bị bắt. Từ đó họ tìm ra một số người đặt mua sách. Ngay sau đó, họ mở cuộc tổng đàn áp trên diện rộng, ở toàn quốc.
Nhiều người mua sách bị công an sách nhiễu. Có người mua sách đã lâu rồi, nhưng công an lần biết đã đến tận nhà, lục soát, bắt về đồn thẩm tra… Không có ngày nào mà tôi không nhận được thư của độc giả. Có người kể chuyện của họ, có người hỏi cách đối phó, có người kêu cứu vì bị công an áp bức quá đáng. Rất nhiều người sợ hãi.

Thật ra, không có ai mà không sợ hãi cả. Thâm tâm mọi người vẫn tin rằng đọc sách không thể là tội. Thế giới văn minh không coi việc đọc sách là tội cả. Nhưng công an thì bất chấp, khi đối diện với người có sách của NXB Tự Do, thông điệp của họ là “đồ này phản động, chúng mày đọc chỉ có chết” (Đoan Trang cười). Và khi hỏi về luật hay lý lẽ, thì họ gạt phăng và nói đây là Việt Nam, và Việt Nam có luật riêng về chuyện này.
Cho đến lúc này, tôi biết số độc giả bị hăm dọa, bị đến nhà lục soát, bị bắt cóc… lên đến cũng khoảng 100 người, trên toàn quốc. Nhiều độc giả giờ bị cắt liên lạc, không biết họ thế nào. Nhiều người đi giao sách cũng mất tích, không biết họ ở đâu.

Tuấn Khanh: Nhưng với việc hành động táo tợn và sách nhiễu diện rộng như vậy từ mấy tháng nay, Đoan Trang nghĩ rằng họ chỉ muốn tấn công cá nhân Trang hay muốn dẹp bỏ NXB Tự Do, một hình thái của một tổ chức XHDS mới phát sinh?

Đoan Trang: Tôi nghĩ rằng họ muốn cả hai. Họ ghét cay ghét đắng sách tự do, và họ ghét luôn người xuất bản tự do. Qua cái cách mà họ thẩm vấn những người đi giao sách và người mua sách, công an luôn dùng những lời lẽ miệt thị nặng nề với tôi và cả NXB. Họ thường gọi bằng “con phản động ấy” (Đoan Trang lại cười).
Thêm một điểm nữa là thường vào cuối năm, căn bệnh háo thành tích cũng thúc đẩy họ làm mạnh hơn để nhận khen thưởng, chiến tích… Nên mọi cuộc đàn áp thường tăng vọt bắt đầu vào quý 4 hàng năm.

Tuấn Khanh: Đã có người đặt câu hỏi rằng, việc bắt giữ Đoan Trang hết sức dễ dàng, thậm chí còn dễ hơn là bắt giữ nhà báo Phạm Chí Dũng. Nhưng vì sao họ lại không chủ trương bắt?

Đoan Trang: Bắt giữ hay hành hạ lâu dài bên ngoài đều thuộc về chủ trương. Và mọi hình thức, họ đều có cách tính toán cẩn thận. Thời điểm này không bắt, không có nghĩa là sau này không bắt, và không bắt không có nghĩa là được yên thân.

Với tôi, có lẽ họ đang dùng một phương thức là cô lập, chặt hết chân tay để vô hiệu hóa ở môi trường được coi là tự do. Nhưng họ sẽ khủng bố tinh thần bằng cách săn đuổi – một kiểu khủng bố tinh thần – và bắt được ở đâu thì đánh cho dở sống sở chết.
Họ cô lập mình bằng cách ruồng bố những người thân, bạn bè của mình, làm cho những người chung quanh sợ hãi và thấy phiền vì mình. Từ đầu năm đến nay, các nhóm như Green Trees hay Luật Khoa Tạp Chí… đều bị đàn áp dữ dội. Thường thì công an thẩm vấn những người quen biết, luôn có ý muốn giấu mục đích này bằng cách tra vấn đủ mọi chuyện không liên quan, nhưng họ cũng không quên nói xấu hay nặng lời về tôi.

Tuấn Khanh: Từ sự kiện rất nhiều người bị bắt, bị sách nhiễu, đàn áp… ở khắp cả nước vì đọc sách của Đoan Trang, nhận sách của NXB Tự Do, đã xuất hiện nhiều lời đồn đãi – thậm chí là cả phía người Việt ở hải ngoại – về chuyện Đoan Trang là “nằm vùng” hay “cộng sản cài” để âm mưu phát hiện và bắt giữ những người bất đồng chính kiến?

Đoan Trang: Tôi tin rằng là có. Tôi tin là công an CS đang dùng biện pháp kép. Một mặt chặt hết chân tay – theo nghĩa đen – là bắt được là đánh, thậm chí đánh cho thương tật nhưng không bắt. Mặt khác họ săn đuổi khiến những ai quen biết đều sợ hãi và mệt mỏi khi muốn đồng hành hay giúp mình. Riêng về độc giả của các sách tôi viết, NXB Tự Do phát hành thì bị đàn áp liên tục và dai dẳng với cái kiểu “ai dây vào con phản động này sẽ đi tù hết” (lại cười). Nhưng công an cố tạo tình huống thắc mắc “người đọc sách bị bắt, người viết sách vẫn bình an”. Họ cũng cho tung ra dư luận là Phạm Đoan Trang và NXB Tự Do là do bọn công an gài bẫy, một loại chim mồi để phát hiện và bắt giữ những ai có lòng yêu tri thức, yêu sách xuất bản tự do. Dĩ nhiên, có không ít người do sợ hãi và yếu lòng, cũng bị thao túng.

Tuấn Khanh: Chỉ là viết sách, nhưng lại trở thành kẻ bị săn đuổi và hành hạ. Mọi thứ đang ngày càng trở nên nguy hiểm bằng suy nghĩ của mình nhưng Đoan Trang vẫn tiếp tục như một thách thức với nhà cầm quyền. Qua công việc này, Đoan Trang (hay cả NXB Tự Do) muốn chuyển thông điệp gì đến với giới trẻ, với đám đông?

Đoan Trang: Thông điệp của tôi – và có lẽ của cả NXB Tự Do – hướng về người đọc là chúng ta không sợ hãi, không cần phải sợ hãi. Với công an, không có chuyện sợ thì sẽ được nương tay. Hãy nhìn Hồng Kông để thấy đó là một bài học. Sự đàn áp là có mục đích nên khi con người lùi lại hay sợ hãi, sự đàn áp sẽ còn mạnh hơn để phục vụ cho mục đích của kẻ đắc thắng về bạo lực.
Tôi hay NXB Tự Do muốn giới thiệu việc hành động bằng quyền của mình, tự do chính đáng của mình mà không cần phải lo sợ. Nếu sợ hãi, thì đã không có sách in từng cuốn, giao tận tay để chia sẻ sự không sợ hãi với quyền của mình. Nếu ngán ngại, thì chọn ebook phát hành trên mạng là xong và không cần nghĩ ngợi, lo lắng gì cả. Nếu đã chọn sợ hãi làm lẽ sống, và không dám thể hiện quyền của mình thì chúng ta cũng chẳng nên làm gì cả, cứ thủ phận và chấp nhận mọi thứ, và chúng ta cũng chẳng có gì cả. Thậm chí tự mình phủ nhận việc đọc sách hay viết sách là quyền tối thiểu của con người.
Việc xuất hiện sách với suy nghĩ tự do, còn có giá trị lưu trữ cho đời sau. Để mọi thứ là chứng cứ và tính kết nối kế thừa. Đó là dấu hiệu của một cuộc đòi dân chủ ôn hòa, để người sau nhìn thấy những bài học của người đi trước và tiếp tục. Các bạn trẻ ở Hồng Kông không thể tự mình phát sinh ra các phương thức đấu tranh dân chủ từ cách mạng dù vàng 2014 cho đến cuộc đòi dân chủ 2019. Họ đã được học, được đọc, được trao đổi và kế thừa từ rất nhiều thứ. Và những thứ đó, từ những người hành động tưởng chừng như vô ích như NXB Tự Do.
Tôi hay NXB Tự Do đối diện với nguy hiểm, nhưng điều đó không còn quan trọng nữa. Vì giả sử ngày mai, tôi hay NXB Tự Do bị bắt hết, tôi tin là sẽ có những người khác hành động, vì đó là trách nhiệm và sứ mạng của những ai biết nghĩ cho tương lai, dân tộc mình.

https://www.rfa.org/vietnamese/news/blog/interview-pham-doan-trang-12012019190802.html


 
 

Thư cảm ơn Tổ chức “Ân xá quốc tế” và “Theo dõi nhân quyền”

 

Ngày 1/12/2019

Kính gửi: Ân xá Quốc tế (AI) và Theo dõi Nhân quyền (HRW)

Chúng tôi viết thư này để bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến AI và HRW vì đã ra Tuyên bố chung ký ngày 27/11/2019, yêu cầu chính quyền Việt Nam chấm dứt ngay lập tức mọi hành vi đàn áp Nhà xuất bản Tự Do.

Tuyên bố chung được ban hành đúng vào thời điểm cơ quan công an Việt Nam đang leo thang nghiêm trọng trong việc đe dọa và sách nhiễu độc giả của NXB. Hàng chục độc giả đã bị thẩm vấn và bị ép phải ký cam kết “không bao giờ nhận sách từ NXB Tự Do nữa”. Nhiều người bị khám nhà và bị tịch thu tài sản cá nhân, gồm sách, máy tính và điện thoại.

Trong hai ngày sau khi Tuyên bố chung ra đời, tức là vào ngày 28 và 29/11, công an ở một vài địa phương vẫn câu lưu độc giả của NXB Tự Do. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng ở một mức độ nào đó, bản tuyên bố chung đã có tác dụng khiến công an phải kiềm chế bớt bạo lực trong quá trình thẩm vấn.

Chúng tôi cũng tin là Tuyên bố chung của AI và HRW đã khẳng định với người đọc của chúng tôi rằng “tiếp nhận và đọc những thông tin trong các cuốn sách như sách của NXB Tự Do phát hành” là một quyền được hiến pháp bảo vệ, cũng là một một khía cạnh quan trọng của quyền tự do biểu đạt và tự do về giáo dục. Qua đó, một cách hiệu quả, Tuyên bố chung đã khuyến khích người đọc và người làm xuất bản ở Việt Nam thực thi quyền của họ. Chúng tôi rất cảm ơn AI và HRW vì điều này.

Một lần nữa, xin cảm ơn sự ủng hộ của quý vị.

Kính thư,

NXB Tự Do

 

https://i0.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/12/WhatsApp-Image-2019-12-01-at-13.54.17.jpeg?resize=300%2C400&ssl=1


 

 

30/11/2019

 

Hai động thái mới của chính quyền: Một cách hiện thực hóa dự luật đặc khu

 

 

https://i0.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/11/WhatsApp-Image-2019-11-30-at-08.30.19.jpeg?resize=300%2C300&ssl=1

NguyenTrangNhung’ s blog

Chiều ngày 25/11, quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

Một nội dung đáng chú ý của luật mới là quy định miễn thị thực có thời hạn tạm trú 30 ngày cho người nước ngoài vào khu kinh tế ven biển đáp ứng các điều kiện nhất định.

Các điều kiện này là: (1) có sân bay quốc tế, không gian riêng biệt; (2) có ranh giới địa lý xác định, cách biệt với đất liền; (3) phù hợp với chính sách phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; và (4) không phương hại đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.[1]

Chiếu theo các điều kiện này, 2 trong 18 khu kinh tế ven biển hiện có tại Việt Nam là thỏa mãn. Đó là Vân Đồn và Phú Quốc, 2 nơi được nhắm trở thành đặc khu theo dự luật đặc khu gây tranh cãi vào giữa năm 2018.

Những ai theo dõi dư luận xung quanh dự luật đặc khu hẳn biết 2 quy định được để ý nhất trong dự luật này là thời hạn cho thuê đất tối đa lên đến 99 năm và miễn thị thực cho công dân nước láng giềng giáp ranh với Quảng Ninh, nơi có Vân Đồn, và Kiên Giang, nơi có Phú Quốc.

Mặc dù dự luật không nói rõ các nước giáp ranh với 2 tỉnh này, người ta thừa hiểu đó tương ứng là Trung Quốc và Campuchia. Và trong 2 nước này, Trung Quốc là nỗi lo của nhiều người dân Việt Nam xét về một số phương diện, trong đó có an ninh quốc phòng.

Khi quyết định lùi thông qua dự luật đặc khu vào tháng 6/2018, quốc hội đã tạm thời làm tiêu tan làn sóng phản đối của đa số dân chúng đối với dự luật đặc khu, và theo thời gian, mặc dù chính quyền vẫn có những động thái xúc tiến dự luật, nhưng các động thái này đủ nhẹ nhàng để người dân ít để ý tới.

Có thể kể đến một số động thái như vậy, chẳng hạn:

  • Tháng 11/2018, hội thảo quốc tế “Chính sách tài chính phát triển đặc khu kinh tế: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam” do Trường Bồi dưỡng Cán bộ Tài chính (thuộc Bộ Tài chính) tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh, trong đó có sự góp mặt của các chuyên gia Trung Quốc.[2]
  • Tháng 4/2019, thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với Ủy ban Pháp luật và ủy ban Kinh tế của Quốc hội xây dựng phương án chỉnh lý, hoàn thiện dự luật theo hướng xây dựng một luật chung, và Ban Cán sự Đảng Chính phủ đã báo cáo Bộ Chính trị xin ý kiến chỉ đạo về việc này.[3]

Và đây, việc quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung trên kể trên, và trước đó chỉ 11 hôm là việc chính phủ thành lập Ban Quản lý khu kinh tế Vân Đồn vào ngày 14/11 cũng là các động thái như thế.

Hai động thái mới nhất này, mặc dù nhẹ nhàng, ít ra là nhẹ nhàng hơn nhiều so với dự luật đặc khu, nhưng lại không đủ nhẹ nhàng để tránh khỏi làn sóng phản đối đầu tiên, khi một số người có ảnh hưởng bắt đầu lên tiếng.

Việc thành lập Ban Quản lý khu kinh tế Vân Đồn có thể nhằm chuẩn bị cho việc trao quyền quyết định ở mức độ nào đó cho cơ quan này đối với những vấn đề của khu, và người dân cần chờ xem việc này sẽ ảnh hưởng như thế nào tới khu nói chung và vấn đề an ninh quốc phòng nói riêng.

Việc miễn thị thực cho người nước ngoài – mà người nước ngoài chủ yếu là người Trung Quốc – kể ra chẳng khác là bao so với quy định miễn thị thực cho công dân nước láng giềng giáp ranh với Quảng Ninh Và Kiên Giang trong dự luật đặc khu.

Mặc dù với 2 động thái này, Vân Đồn và Phú Quốc chưa trở thành đặc khu như trong dự luật đặc khu, nhưng điều này không quan trọng. So với khu kinh tế, đặc khu kinh tế có những điểm ưu trội hơn về các chính sách kinh tế, tài chính và liên quan, song sự ưu trội này là không lớn.

Riêng về thời gian cho thuê đất, thời gian này của khu kinh tế tối đa là 70 năm, không đến 99 năm như đặc khu kinh tế theo dự luật đặc khu, nhưng chi tiết này không thực sự thành vấn đề một khi người Trung Quốc được tạo điều kiện nhập cảnh dễ dãi vào Việt Nam.

Những điều trên cũng có nghĩa là, chưa cần dự luật đặc khu được thông qua, cũng chưa cần nó được tán thành bởi dân chúng, thì bằng các con đường êm ái hơn, một phần của dự luật đặc khu đã thành hiện thực.

Cho nên, những ai đã từng quan tâm tới dự luật đặc khu cần được minh định rõ rằng: với những phương cách gián tiếp, chính quyền đang hiện thực hóa một phần dự luật đặc khu. Và 2 động thái kể trên, đặc biệt là động thái thứ hai, đã hiện thực hóa phần đáng kể – và cũng là phần đáng e ngại nhất.

Chú thích:

[1] Người nước ngoài được miễn thị thực vào khu kinh tế ven biển
https://vnexpress.net/thoi-su/nguoi-nuoc-ngoai-duoc-mien-thi-thuc-vao-kh…

[2] Thấy gì từ hội thảo quốc tế về chính sách tài chính phát triển đặc khu kinh tế?
https://www.rfa.org/vietnamese/news/blog/what-to-see-in-the-seminar-on-s…

[3] Chỉnh lý luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt theo hướng luật chung
https://dantri.com.vn/xa-hoi/chinh-ly-luat-don-vi-hanh-chinh-kinh-te-dac…

 

https://www.rfavietnam.com/node/5823

 

29/11/2019

 

KHUYẾN CÁO CÁC ĐỘC GIẢ CỦA NXB TỰ DO
Facebook tác giả Phạm Đoan Trang

 

Hai tổ chức nhân quyền quốc tế lớn nhất thế giới là Ân xá Quốc tế (AI) và Theo dõi Nhân quyền (HRW) đã vừa ra tuyên bố chung đề ngày 27/11, yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam chấm dứt ngay “chiến dịch đe dọa và quấy rối” các độc giả của Nhà xuất bản (NXB) Tự Do.

Đây là tin tốt cho các độc giả và NXB, vì nó góp phần khẳng định rằng đọc sách là quyền, và nhân quyền là phổ quát, không có cái kiểu “phương Tây thì tự do, thoải mái, thích đọc/ viết/ xem gì thì đọc/ viết/ xem, còn dân Việt chỉ cần nồi cơm là đủ, sách vở gì, phản động à”.

Tuy vậy, chúng ta vẫn biết rằng “nước xa không cứu được lửa gần”. Nói nôm na là, thằng chồng vũ phu cứ giữ thói đóng chặt cổng nhà lại để đánh vợ thì chờ được làng trên xóm dưới đến cứu cũng còn mệt.

Do vậy, xin hết sức khuyến cáo các độc giả của NXB Tự Do nâng cao khả năng tự bảo vệ mình khi bị công an sách nhiễu, triệu tập/ “mời” ra đồn “làm việc”.

* * *

TRƯỚC KHI RA ĐỒN, các bạn nên thực hiện những điều sau đây:

1. Đóng (deactivate) tài khoản facebook, không nhận bất cứ tài khoản facebook nào là của mình.

2. Không mang điện thoại và đồ quý theo người, không mang theo nhiều tiền mặt, đơn giản là vì bạn sẽ bị công an cướp sạch với lý do “thu giữ để điều tra”. Cứ xác định là không bao giờ công an trả lại bạn tài sản đâu, cũng không bao giờ báo cáo kết quả điều tra với bạn, nên để công an cướp đồ gì tức là mất đồ ấy.

3. Giấu kỹ sách (tại nhà hoặc ở nơi nào an toàn).

* * *

TẠI ĐỒN, trong quá trình “làm việc” với công an, các bạn lưu ý:

1. Không nhận bất cứ tài khoản facebook nào là của mình; không nhận mình từng dùng tài khoản facebook nào để đặt sách của NXB Tự Do. Thật ra, công an Việt Nam không có khả năng điều tra và chứng minh những việc này, mà chỉ thẩm vấn dựa trên mớm cung, ép cung, bắt nọn. Các trường hợp bị công an cáo buộc là có nhận sách của NXB Tự Do, phần lớn là do người bị thẩm vấn bị bắt nọn và tự nhận. Thiểu số còn lại là bị… người nhà tố cáo (!)

2. Không cho công an khám nhà. Nếu công an muốn khám, phải xuất trình lệnh khám xét cho bạn, bằng văn bản có chữ ký và con dấu phê chuẩn của Viện Kiểm sát. Việc khám nhà phải có bạn chứng kiến. (Theo luật pháp Việt Nam, cụ thể là Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, thì ngay cả khám người cũng phải có lệnh, tuy nhiên chắc 100% công dân Việt Nam vào đồn đều biết công an chấp hành luật ra sao rồi).

3. Đọc Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, đây là các từ khoá: giấy mời, giấy triệu tập, tạm giữ, tạm giam, khám xét. Đọc để hiểu luật và để thấy công an làm sai luật đến mức nào, cũng như họ lợi dụng tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật của công dân để uy hiếp công dân tới đâu.

4. Không gây sự với công an, nhưng đừng để công an nghĩ rằng bạn vừa nhát vừa kém hiểu biết. Nên nhớ, chỉ cần bạn tỏ ra run sợ, công an sẽ ngồi lên đầu bạn ngay, nghĩa là lên giọng đe nẹt, trấn áp bạn ngay lập tức, và thấy bở thì sẽ đào mãi. Không có chuyện công an “thương” mà tha bạn đâu.

Cảm ơn các bạn và mong tất cả vững lòng.

https://www.facebook.com/641613321/posts/10158081533453322/


 

 

29/11/2019

 

CÁC TỔ CHỨC NHÂN QUYỀN  QUỐC TẾ YÊU CẦU VIỆT NAM CHẤM DỨT ĐÀN ÁP ĐỘC GIẢ CỦA NXB TỰ DO

 

 

Nguồn: Bản thông cáo bằng pdf tải về từ trang Amnesty

 

Chấm dứt ngay “chiến dịch đe dọa và quấy rối” và “cho phép Nhà xuất bản Tự Do (NXB) và những người có liên quan thực hiện quyền tự do ngôn luận” là thông điệp và yêu cầu mà Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) và Ân xá Quốc tế (Amnesty International) vừa đưa ra trong thông cáo mới đây của họ.

Hai tổ chức nhân quyền quốc tế này cho hay là họ đã nhận được những báo cáo về việc chính quyền Việt Nam cho lực lượng công an khám nhà, thu giữ sách và sách nhiễu, hành hung những cá nhân được cho là có cộng tác hay mua sách của NXB. Hoạt động đàn áp này đã gia tăng mạnh trong thời gian gần đây.

Nhắc tới việc nhiều người đã bị đe dọa và tra tấn, thông cáo chung nhấn mạnh, đây là “một thông điệp đáng lo ngại nhắm tới những người muốn thực hành quyền tự do biểu đạt, và quyền tiếp cận thông tin, đây cũng là dấu hiệu cho thấy sự độc đoán của chính quyền nhắm tới những người bất đồng chính kiến ôn hòa”.

Theo dõi Nhân quyền và Ân xá Quốc tế cũng ý thức được rằng Việt Nam là xứ sở mà “chính quyền hạn chế nghiêm ngặt quyền tự do ngôn luận, và là nơi người dân đối mặt với việc bị bắt giữ và bỏ tù chỉ vì nói lên ý kiến của mình” nên theo họ, “cuộc đàn áp này làm trầm trọng thêm bầu không khí sợ hãi phổ biến” tại đây.

Được thành lập tháng 2/2019, NXB Tự Do chủ trương in ấn và phát hành các tác phẩm không thông qua bộ máy kiểm duyệt của chính quyền Việt Nam. Tiêu chí này của NXB hoàn toàn phù hợp với những quyền con người cơ bản trong các công ước quốc tế và văn bản pháp luật mà nhà nước Việt Nam cũng đã long trọng ký kết.

Thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng và biểu đạt, cũng như quyền tiếp cận thông tin là điều được chính bản Hiến pháp của nước CHXHCN Việt Nam đảm bảo. Không thể hành hung bất cứ ai chỉ vì họ thực hiện những quyền tự do này một cách ôn hòa – đó là điều mà chính quyền Việt Nam cần phải ý thức được.

Trước tình trạng bị đàn áp (mà NXB Tự Do cũng đã liên tục đưa tin trong những ngày gần đây), các thành viên của NXB cho rằng độc giả không nên quá hoang mang sợ hãi vì chúng ta không làm gì sai luật, và không đơn độc trong việc làm của mình. Chân thành cám ơn hai tổ chức quốc tế đã theo dõi và kịp thời lên tiếng.

Chúng ta sẽ cùng song hành trên con đường gian nan này và sẽ không bỏ cuộc!


 

 

24/11/2019

 

CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM GIA TĂNG BỊT MIỆNG NHÀ BÁO ĐỘC LẬP

 

 

https://i0.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/11/WhatsApp-Image-2019-11-23-at-23.35.18.jpeg?resize=300%2C300&ssl=1

 

Ngày 21/11 vừa qua, Công an TP.HCM đã khởi tố và bắt tạm giam Tiến sĩ Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.

Một ngày sau khi ông Dũng bị bắt, Hội Nhà báo Độc lập ra thông cáo báo chí tuyên bố: “Với việc bắt và khởi tố ông Phạm Chí Dũng, Cơ quan Công an Tp. Hồ Chí Minh đã xoá bỏ các nỗ lực tuyên truyền và thúc đẩy quyền dân sự – chính trị của Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc trong thời gian gần đây; vẽ thêm mảng tối về tự do báo chí, tự do ngôn luận tại Việt Nam; xác lập sự vi phạm trắng trợn các cam kết nhân quyền của Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng thế giới và khu vực”.

Hội “phản đối sử dụng việc bắt giữ những nhà báo độc lập, những nhà hoạt động dân chủ – nhân quyền như một cách thức để trao đổi thương mại với các quốc gia”, đồng thời kêu gọi “tinh thần đoàn kết của những nhà hoạt động, vận động nhân quyền – dân chủ ở Việt Nam trong đấu tranh đòi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí”.

Nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế như Phóng viên Không Biên giới (RSF) và Theo dõi Nhân quyền (HRW) cũng đã lên án nhà chức trách Việt Nam về vụ bắt giữ này.

Ông Phạm Chí Dũng sinh năm 1966, là một nhà báo, nhà văn, nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam. Ông là tiến sĩ kinh tế và là một cây bút chuyên bình luận, phản biện về tình hình kinh tế, chính trị Việt Nam cũng như thúc đẩy, ủng hộ dân chủ hoá cho Việt Nam. Ông từng là cán bộ của Ban An ninh Nội chính Thành uỷ TP.HCM và đã viết đơn ra khỏi đảng năm 2013. Năm 2014, ông tham gia thành lập Hội Nhà báo Độc lập và giữ vị trí Chủ tịch Hội từ đó đến nay. Ông đã viết hàng trăm bài báo có giá trị dưới nhiều bút danh khác nhau.

Được biết, ngay sau khi ông Dũng bị bắt, trang Việt Nam Thời báo – trang web chính thức của Hội Nhà báo Độc lập – đã bị vô hiệu hoá.

Việc chính quyền Việt Nam bắt giữ ông Phạm Chí Dũng và tổ chức cho công an càn quét sách, bắt bớ câu lưu người đọc của Nhà xuất bản Tự Do trên toàn quốc cho thấy họ càng ngày càng bạo ngược, kiên quyết không chấp nhận tự do ngôn luận và thẳng tay đàn áp bất kỳ tiếng nói trái chiều nào.

Nhà xuất bản Tự Do kịch liệt phản đối việc bắt giữ người viết nhằm dập tắt tiếng nói trái chiều. Chúng tôi yêu cầu nhà nước CHXHCN Việt Nam trả tự do cho TS. Phạm Chí Dũng vô điều kiện.

Chúng tôi cũng bày tỏ sự ủng hộ đối với Hội Nhà báo Độc lập và xin sẵn sàng đứng bên Hội, đoàn kết, hợp tác cùng Hội trong bất kỳ nỗ lực nào nhằm vận động trả tự do cho ông Phạm Chí Dũng và thúc đẩy quyền tự do báo chí, mở rộng không gian tự do biểu đạt ở Việt Nam.

Phạm Chí Dũng vô tội. Hơn thế nữa, khi ông bị nhà cầm quyền bắt chỉ vì “tội” viết bài (nghĩa là chỉ vì thực hiện quyền tự do biểu đạt của mình một cách ôn hoà), thì ông đã chính thức trở thành một tù nhân lương tâm. Ông là gương mặt mới nhất thêm vào danh sách hàng trăm tù nhân lương tâm ở Việt Nam hiện nay.

 

 

13/11/2019

 

GIEO RẮC SỰ NGHI KỴ CHÍNH LÀ THỦ ĐOẠN QUEN THUỘC CỦA AN NINH

 

https://i2.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/11/1148.jpg?resize=300%2C400&ssl=1

Nguồn ảnh: Internet

Vào khoảng 3h sáng 09/01/2020, hàng ngàn công an đã tấn công vào làng Đồng Tâm – Hà Nội, xông vào từng nhà, ném bộc phá, lựu đạn cay… để trấn áp người dân, bắt đầu một cuộc cưỡng chiếm đất bài bản với mức độ bạo lực chưa từng có.

Cuộc tấn công này đã gây ra cái chết của ít nhất một người dân, và làm bị thương nhiều người. Có khả năng nó cũng đã gây ra cái chết của một em bé mới 3 tháng tuổi và một cụ già đã ngoài 80. Truyền thông quốc doanh cũng vội vã đưa tin rằng có 3-4 “chiến sĩ” “hy sinh khi làm nhiệm vụ”.

Quy mô và mức độ tàn bạo của cách mà công an đối xử với dân làm cho bất kỳ ai có lương tri cũng phải bàng hoàng.

Nhưng mỗi khi công an Việt Nam tham gia vào các vụ cưỡng chế dân như cướp đất hoặc đàn áp biểu tình, họ đều có một luận điệu chung để tự biện minh là “làm vì nhiệm vụ được giao”. Họ mặc nhiên quan niệm rằng đã là công an thì bắt buộc phải thực hiện mệnh lệch cấp trên ban xuống.

Ngay cả những người đấu tranh dân chủ-nhân quyền, cũng nhiều người bảo nhau rằng nên tha thứ cho công an vì “công an chỉ làm theo lệnh trên giao”, “nhiệm vụ cả thôi mà”.

Có đúng như vậy không? Có đúng là công an, quân đội nhất nhất phải tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên, ngay cả khi đó là mệnh lệnh sai trái không?

Để trả lời câu hỏi này, Nhà xuất bản Tự Do xin trích đăng một bài viết trong tác phẩm “Chính trị bình dân” của tác giả Phạm Đoan Trang. Bài viết được tác giả lược dịch từ các tài liệu “Human Rights Standards and Practice for the Police” và “International Human Rights Standards for Law Enforcement – A Pocket Book on Human Rights for the Police”.

* * *

NGHỀ CÔNG AN TRONG CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ

Công an phải bảo vệ sự an toàn của cộng đồng và quyền của tất cả mọi người.

Công an phải là một cơ quan độc lập trong nhánh hành pháp, chịu sự hướng dẫn, chỉ đạo của tòa án và bị ràng buộc bởi các mệnh lệnh của tòa án.

Mọi cơ quan hành pháp đều phải đại diện cho toàn thể cộng đồng, phải minh bạch và chịu trách nhiệm trước toàn thể cộng đồng.

Tất cả quan chức/ cán bộ công an đều thuộc về cộng đồng và có nghĩa vụ phục vụ cộng đồng.

Tất cả công an phải thực thi chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ như những đầy tớ tận tụy, không thiên vị, của toàn thể cộng đồng.

Bất kỳ công an nào cũng không được phép tham gia trực tiếp vào hoạt động chính trị.

Bất kỳ công an nào cũng không thể được lệnh hoặc bị ép buộc phải thực thi chức năng, quyền hạn và nhiệm vụ hay huy động nguồn lực công an để hỗ trợ hay phá hoại bất kỳ đảng phái/ nhóm lợi ích nào cũng như thành viên của đảng phái/ nhóm lợi ích đó.

Công an có nghĩa vụ bảo vệ quyền của tất cả các đảng phái, cá nhân và tổ chức, cũng như bảo vệ tất cả các đảng phái, cá nhân và tổ chức đó, một cách bình đẳng, không gây sợ hãi, không tạo đặc quyền đặc lợi.

TẤT CẢ CÔNG AN ĐỀU PHẢI:

Giữ tính độc lập về chính trị và tính công bằng, vô tư, ở mọi lúc mọi nơi.

Thực thi tất cả nhiệm vụ một cách công bằng, vô tư, và không phân biệt đối xử về sắc tộc, chủng tộc, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo hay chính kiến.

Bảo vệ và tôn trọng nhân quyền của tất cả mọi người, gồm cả những quyền thiết yếu trong chính trị.

Giữ gìn và bảo vệ trật tự xã hội sao cho nền chính trị dân chủ có thể vận hành một cách hợp hiến và hợp pháp.

LÃNH ĐẠO CÔNG AN PHẢI:

Đảm bảo rằng mọi chính sách và đường lối của ngành công an đều trên tinh thần tôn trọng dân chủ.

Có biện pháp để xác định nhu cầu của cộng đồng và đáp ứng các nhu cầu đó.

SỬ DỤNG VŨ LỰC VÀ VŨ KHÍ TRONG NGÀNH CÔNG AN

Mọi người đều có quyền sống, quyền được an toàn, quyền không bị tra tấn hay phải chịu các cách đối xử và trừng phạt tàn nhẫn, vô nhân đạo, xúc phạm nhân phẩm.

Công an luôn luôn phải sử dụng các biện pháp phi bạo lực trước tiên.

Chỉ được sử dụng vũ lực khi cực kỳ cần thiết.

Chỉ được sử dụng vũ lực cho các mục đích hành pháp đúng luật.

Việc sử dụng vũ lực phải luôn tương xứng với các mục tiêu hợp pháp.

Sử dụng vũ lực luôn phải có sự kiềm chế.

Phải giảm thiểu thiệt hại vật chất và thương vong.

TRÁCH NHIỆM GIẢI TRÌNH TRONG VIỆC SỬ DỤNG VŨ LỰC VÀ VŨ KHÍ:

Cán bộ, nhân viên từ chối tuân theo những mệnh lệnh vi phạm pháp luật sẽ được miễn trách.

Cán bộ, nhân viên lạm quyền không thể nại lý do tuân lệnh cấp trên để được miễn trừ trách nhiệm.

CÁC TÌNH HUỐNG CHO PHÉP DÙNG VŨ KHÍ

Công an chỉ được sử dụng vũ khí trong các tình huống cực đoan.

Công an chỉ được sử dụng vũ khí để tự vệ hoặc để bảo vệ người khác khỏi nguy cơ sắp bị giết hoặc bị thương nặng, hoặc để ngăn chặn một tội ác đặc biệt nghiêm trọng, kéo theo nguy cơ đe dọa mạng sống, hoặc để bắt giữ hoặc ngăn chặn việc bỏ trốn của một cá nhân đang gây ra một mối đe dọa hoặc đang chống lại các nỗ lực ngăn chặn mối đe dọa đó, và

Việc cố ý sử dụng vũ lực và vũ khí chỉ được cho phép khi đó là việc thật sự không thể tránh khỏi để có thể bảo vệ sinh mạng con người.

**************

Như vậy, chúng ta có thể thấy, người công an hoàn toàn có QUYỀN TỪ CHỐI TUÂN LỆNH cấp trên, nếu mệnh lệnh đó vi phạm pháp luật và sử dụng bạo lực quá mức cần thiết. Công an không được nại lý do tuân lệnh cấp trên để mong được miễn trừ trách nhiệm.

Vũ khí chỉ để dùng để chống lại những kẻ phạm tội nguy hiểm, những kẻ là kẻ thù của dân tộc. Vũ khí không phải là thứ để sử dụng bừa bãi vào việc chống lại người dân.


 
https://i2.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/11/WhatsApp-Image-2019-11-13-at-18.15.36.jpeg?resize=300%2C400&ssl=1

 

Bạn đọc thân mến,

Những ngày đầu tháng 11/2019 vừa qua, sau khi thông tin về việc một số độc giả bị an ninh mời, bị câu lưu, bị sách nhiễu, bị cướp (tịch thu) sách và điện thoại, shipper bị bắt, bị đánh… được NXB và tác giả Phạm Đoan Trang công khai trên facebook, đã có một số người đặt ra những câu hỏi đại loại như
“ĐỘC GIẢ BỊ SÁCH NHIỄU, SHIPPER BỊ ĐÁNH SAO TÁC GIẢ VẪN BÌNH AN?”.

Để làm sáng tỏ một số vấn đề mà một số người đã thắc mắc, thậm chí thắc mắc với thái độ công kích, chúng tôi – NXB Tự Do – xin trả lời như sau:

1. Chúng tôi – các thành viên của NXB và tác giả Phạm Đoan Trang – chưa bao giờ “bình an” cả. Chúng tôi luôn bị săn đuổi, truy lùng từng ngày, từng giờ. Nhưng vì tuân thủ nghiêm túc những quy tắc bảo mật (bạn đọc có thể tìm thấy trong chương VII, “Bảo mật”, của cuốn “Cẩm nang nuôi tù”) và vì nhận được sự che chở, bảo vệ từ anh chị em hoạt động, từ rất nhiều người dân, nên đến giờ chúng tôi vẫn tạm “an toàn”. Chữ “an toàn” được đặt trong ngoặc kép vì thực sự cuộc sống của chúng tôi luôn căng thẳng, chỉ cần một chút sơ sẩy là có thể rơi ngay vào những cái bẫy luôn giăng sẵn.

2. NXB có hàng ngàn độc giả, trong đó có hàng trăm độc giả mua sách thường xuyên, đến nay vẫn đang tiếp tục mua. Nhưng số độc giả bị lộ, bị sách nhiễu chỉ độ vài chục người. Những người bị lộ là do một vài công ty dịch vụ vận chuyển, dưới sức ép dữ dội của công an, đã buộc phải cộng tác với công an mà cung cấp danh tính khách hàng. Chúng tôi vô cùng xin lỗi độc giả vì đã chọn nhầm dịch vụ không uy tín, không bảo vệ khách hàng. Tuy nhiên, chúng tôi cũng hiểu áp lực mà các công ty dịch vụ đó phải chịu, và thông cảm với họ.

3. Các biện pháp cần thiết để ứng phó với an ninh đã được chúng tôi đăng tải công khai trên fanpage của NXB. Những hướng dẫn và khuyến cáo chi tiết được đăng trong hai stt theo link dưới đây:

https://www.facebook.com/643230236055921/posts/1000425480336393/
https://www.facebook.com/643230236055921/posts/999565243755750/

4. Chúng tôi tin tưởng mỗi độc giả là một người trưởng thành, có đầy đủ nhận thức về việc mình làm. Tiếp cận thông tin là QUYỀN và vì thế nếu bị sách nhiễu khi thực hiện quyền của mình thì các độc giả hoàn toàn độc lập trong việc quyết định đáp trả như thế nào để bảo vệ quyền đó. NXB Tự Do luôn đồng hành cùng độc giả trong việc phổ cập tri thức và độc giả là người biến những tri thức lĩnh hội được thành hành động. Chúng tôi cũng luôn sẵn sàng lắng nghe mọi ý kiến, mọi vấn đề từ độc giả, sẵn sàng chia sẻ những kinh nghiệm của chúng tôi để hỗ trợ độc giả thực hiện QUYỀN của mình.

5. Chúng tôi cũng xin cảnh báo cùng quý vị độc giả về một hình thức đánh phá mà NXB Tự Do và tác giả Phạm Đoan Trang đang phải đối diện. Đó là các hoạt động cố tình gây chia rẽ bằng cách gieo rắc sự nghi ngờ về chúng tôi. Những hành động này là của một số cá nhân, tổ chức có thể có sự hậu thuẫn từ chính quyền, hoặc thậm chí của những người ngoài miệng vẫn hô hào cổ xuý cho dân chủ nhưng thực tế lại luôn làm những việc gây chia rẽ phong trào. Hành động của họ không nhằm mục đích gì khác hơn là làm mất đi sự ảnh hưởng và ủng hộ mà quý độc giả đã dành cho chúng tôi suốt thời gian qua; gây ra sự nghi kỵ giữa chúng ta – chúng tôi NXB Tự Do, tác giả Phạm Đoan Trang, và các quý độc giả. Có thể dễ dàng nhận ra điều đó, khi mà những người tấn công chúng tôi là những người chưa từng mua sách, chưa từng đọc sách, do đó, chắc chắn họ không biết, không hiểu những gì được viết trong sách.

6. Cuối cùng, chúng tôi khẳng định: Kẻ duy nhất có tội, kẻ làm điều ác trong tất cả các vụ sách nhiễu vừa qua chính là lực lượng an ninh. Chính an ninh, chứ không phải ai khác, là những kẻ đã xâm phạm nghiêm trọng QUYỀN công dân, QUYỀN con người, xâm phạm đến tài sản, quyền tự do và sự riêng tư của người dân. Chúng tôi kịch liệt phản đối và lên án những hành vi đó.

MUA SÁCH, ĐỌC SÁCH KHÔNG CÓ TỘI.

#NhaxuatbanTuDo

 

 

08/11/2019

 

CẨM NANG NUÔI TÙ – CUỐN SÁCH GIÚP BẠN MẠNH MẼ HƠN

 

https://i0.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/11/unnamed-file-e1573179758898-300x400.png?resize=300%2C400&ssl=1

 

 

 

Những ngày vừa qua, an ninh liên tục, liên tục sách nhiễu bạn đọc của NXB Tự Do. Rất nhiều độc giả đã liên hệ và hỏi chúng tôi về cuốn sách “Cẩm nang nuôi tù”. Trước tình hình này, chúng tôi – Luật khoa tạp chí, Nhà xuất bản Tự Do và tác giả – quyết định đăng tải CÔNG KHAI và MIỄN PHÍ cuốn “Cẩm nang nuôi tù” của tác giả Phạm Đoan Trang trên thư viện online của NXB. Bạn đọc có thể đọc trực tiếp trên website của NXB Tự Do, nếu không muốn để dấu viết trên laptop của bạn. Hoặc bạn có thể tải về trên laptop để từ từ đọc sau. Chúng tôi cũng kêu gọi bạn đọc hãy chia sẻ rộng rãi cuốn sách này để càng nhiều người đọc nó, có nó càng tốt.

“Cẩm nang nuôi tù” là một cuốn sách đặc biệt, viết ra trong một bối cảnh đặc biệt. Chắc bạn đọc còn nhớ về ngày 10/06/2018, ngày có các cuộc biểu tình lớn và rầm rộ xảy ra ở nhiều địa phương nhằm phản đối dự luật đặc khu. Sau đó là những đợt càn quyét bắt bớ một loại các nhà hoạt động, các biểu tình viên. Họ bị bắt, bị câu lưu, bị đánh đập rất tàn nhẫn, mà di chứng của những thương tích đó nạn nhân vẫn còn mang mãi trên thân thể họ. Cao điểm cho việc bắt bớ là vào đầu tháng 09/2018, mà nhiều người bị bắt giữ từ thời điểm đó đến nay vẫn chưa đưa ra xét xử, chưa có bản án nào cho họ, số phận họ vẫn chưa biết sẽ ra sao.

Cộng sản nói riêng và các thể chế độc tài nói chung luôn tạo ra một bức màn sắt để che dấu sự thật, che dấu sự khắc nghiệt tàn bạo của họ và trưng ra một vẻ bề ngoài sạch sẽ, những hình ảnh đẹp đẽ như những chỉ số về phát triển, những thành tích xóa đói giảm nghèo… Người dân không bao giờ biết được đằng sau vẻ bên ngoài đó là gì, người dân sẽ bị đối xử ra sao khi họ không đồng tình với nhà cầm quyền. Chính việc giữ một trạng thái mơ mơ hồ hồ đi kèm những lời hù dọa cũng mơ hồ như kiểu “hãy đợi đấy” càng khiến cho người dân hoang mang và càng làm gia tăng sự sợ hãi trong dư luận.

Việc giúp cho người dân hiểu rõ điều gì sẽ xảy ra, những gì mà chính quyền có thể làm với họ sẽ góp phần giúp cho họ vượt qua được sự sợ hãi. Cẩm nang nuôi tù chính là một quyển sách như thế. Trong quyển sách này, tác giả Phạm Đoan Trang đã chỉ ra tất cả các chiêu trò thủ đoạn mà an ninh thường sử dụng đối với người bất đồng chính kiến và gia đình họ. Và tất nhiên, khi bạn đã hiểu rõ các chiêu trò của họ thì bạn cũng tìm được những cách cần phải làm để chống lại nó, để tự bảo vệ bản thân và gia đình.

Cuốn sách cũng đưa ra những lời khuyên rất hữu ích cho độc giả khi gặp phải những hoàn cảnh như vậy, chỉ ra sự vi phạm pháp luật, sự lạm quyền của ngành công an, và chỉ ra cách mà bạn phải làm để tự bảo vệ mình, bảo vệ gia đình mình. Cuốn sách không chỉ hữu ích cho những người tù và gia đình họ mà nó hữu ích cho bất kỳ ai không đồng quan điểm với chính quyền.

Vượt qua sự sợ hãi không hề dễ dàng, nhưng một khi bạn đã vượt qua được nó thì bạn sẽ mạnh mẽ hơn lên, can đảm hơn lên và dấn thân hơn. “Những gì không giết được bạn sẽ làm bạn trở nên mạnh mẽ hơn”.

 

 

07/11/2019

 

AN NINH TIẾP TỤC SÁCH NHIỄU ĐỘC GIẢ CỦA NXB TỰ DO

—– English below —–

 

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/11/WhatsApp-Image-2019-11-06-at-22.33.14.jpeg?resize=300%2C400&ssl=1

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/11/WhatsApp-Image-2019-11-06-at-22.19.08.jpeg?resize=300%2C400&ssl=1

https://i1.wp.com/nhaxuatbantudo.com/wp-content/uploads/2019/11/WhatsApp-Image-2019-11-07-at-08.31.46.jpeg?resize=300%2C400&ssl=1

 

 

Liên tục mấy ngày vừa qua và cao điểm vào ngày hôm qua – 06/11/2019, NXB Tự Do lại nhận được nhiều tin báo của độc giả về việc bị an ninh sách nhiễu vì đã đăng ký mua/nhận sách của NXB.

Có bạn bị công an gọi lên xã, có bạn bị an ninh tỉnh tìm tới tận nhà, thậm chí có người còn bị gửi cả giấy triệu tập. Do một số bạn đã đọc status “Cảnh báo” và “Đừng sợ” trên fanpage của NXB nên đã khá tự tin khi ứng phó với an ninh. Các bạn đã thẳng thừng từ chối khi an ninh đòi kiểm tra điện thoại và hỏi facebook cá nhân. Một số bạn còn nhấn mạnh với an ninh rằng “mua sách chỉ là giao dịch dân sự, an ninh không có quyền can thiệp và theo dõi”. Có bạn chủ động chụp giấy mời và đưa thẳng lên facebook cá nhân.

Địa bàn độc giả bị sách nhiễu khá rộng, có thể nói là đủ cả ba miền.

Trước tình trạng này, để giữ an toàn cho bạn đọc, NXB khuyến cáo bạn đọc nên phủ nhận hết việc có giao dịch mua/nhận sách của NXB. Việc tiếp tục đăng ký mua/nhận sách nên dùng các thông tin giả như: tên giả, sim rác và địa chỉ nhận sách là nơi công cộng, thậm chí nên dùng facebook ảo để đăng ký nhận sách.

Chúng tôi cũng kịch liệt lên án hành vi sách nhiễu công dân, vi phạm quyền tự do cá nhân của ngành an ninh. Đây là bằng chứng rõ ràng cho thấy Việt Nam hoàn toàn không có tự do ngôn luận, tự do báo chí như chính quyền Việt Nam vẫn luôn rêu rao.

MUA SÁCH, ĐỌC SÁCH KHÔNG CÓ TỘI.

 

POLICE CONTINUE TO HARASS READERS OF LIBERAL PUBLISHING HOUSE

 

Over the last few days and reaching a crescendo last night (November 6th, 2019), Liberal Publishing House (LPH) received many reports of readers being harassed by police for ordering/receiving our books.

Some were called in by commune-level police; others had provincial-level police show up on their doorstep; a few were even sent letters of summons. Some of you had read LPH’S posts “ALERT” and “DON’T BE AFRAID” on our fanpage, and as such, were able to deal with police quite confidently. You flat out refused police demands to look through your phone and your Facebook profile. A number of you even emphasized to police that “buying books is a civil transaction that police have no right to interfere with or track”. Some took the initiative to photograph the summons and post it directly on their Facebook profiles.

Police harassment has not been limited to any one area; readers in all three regions (north, center, and south) have been affected.
Given this situation, and in order to ensure the safety of our readers, LPH advises all readers to deny having ordered or received our books. Future book orders and collections should use fake information: an alias, a disposable SIM card, a public location as your shipping address, and even a fake Facebook profile to order books.

We vehemently condemn the harassment of citizens and the violation of individual freedoms perpetrated by police. These actions clearly demonstrate that Vietnam completely lacks freedom of speech and freedom of the press, despite the regime always claiming otherwise.

BUYING AND READING BOOKS IS NOT A CRIME.

Translated by Will Nguyen