TRÍCH “ĐÊM GIỮA BAN NGÀY”, tác giả Vũ Thư Hiên

Trong những ngày tháng đất nước rối ren, lòng người chia cắt, đau thương vì vụ việc ở Đồng Tâm này, vô vàn câu hỏi quay cuồng trong tâm trí những người còn quan tâm đến quốc gia-dân tộc: Làm gì bây giờ? Làm gì để chấm dứt những thảm kịch như Đồng Tâm? Và câu hỏi dữ dội nhất, xoáy sâu vào tim óc những con người có lương tri là: Lẽ nào? Lẽ nào chỉ vì một mảnh đất vài chục hecta mà chính quyền huy động tới hơn 3000 quân lính với vũ khí, đạn dược, càn vào làng giữa đêm? Lẽ nào lực lượng chấp pháp sẵn sàng hạ sát một cụ già 84 tuổi bằng những phát đạn thẳng vào tim và đầu? Lẽ nào “đảng và nhà nước” coi dân như giặc thật sao?

Chúng ta hỏi thế là vì chúng ta vẫn còn ngây thơ, hoặc không chịu tìm hiểu lịch sử.

Hãy đọc lại “Đêm giữa ban ngày” để hiểu một sự thật cay đắng, bẽ bàng: Những người cộng sản đã luôn coi dân là giặc, ngay từ khi đảng Cộng sản xuất hiện trên mảnh đất này.

Để mua “Đêm giữa ban ngày”, liên hệ với Nhà xuất bản Tự Do bằng cách gửi tin nhắn qua facebook này hoặc gửi email.

* * *

TRÍCH “ĐÊM GIỮA BAN NGÀY”, tác giả Vũ Thư Hiên

Mùa hè năm 1953, đêm đêm chúng tôi nằm thao thức nghe trong mịt mùng những thôn xóm tối tăm tiếng loa âm u hờ gọi nông dân vùng lên đánh đổ “kẻ thù giai cấp”. Từ sáng sớm tinh mơ, hàng đoàn người rầm rập trên các nẻo đường làng còn tối đất, khản tiếng hô vang những khẩu hiệu có mùi máu. Dân chúng ùn ùn đổ về những sân đình, những bãi rộng, nơi sẽ diễn ra những cuộc đấu tố “bọn địa chủ cường hào gian ác”.

Điều làm tôi sửng sốt là những cán bộ kháng chiến trong chính quyền xã bị thẳng cánh gạt ra ngoài lề cuộc đấu tranh. Mà tôi biết rõ họ. Mới hôm trước còn là những người lãnh đạo đầy uy tín ở địa phương, bất thình lình họ không còn được tin cậy nữa, bị tước bỏ mọi quyền hành. Tại sao lại như thế? Tôi hỏi một cán bộ trong đội giảm tô giảm tức và được anh ta giải thích: Đảng bảo phải cảnh giác trước các loại kẻ thù giai cấp. Chúng biết chúng yếu, chúng không thể ra mặt chống phá cách mạng, nên đã tìm đủ mọi cách chui vào trong các tổ chức của ta, nắm giữ các vị trí lãnh đạo. Hiện nay không thể biết trong các cơ quan Đảng và chính quyền ai là địch, ai là ta, nếu không kiên quyết gạt những người cũ ra thì nông dân được Đảng phát động vẫn bị kẻ thù giấu mặt khống chế, họ sẽ không dám vùng lên giành lấy địa vị lãnh đạo. Đó là quan điểm chính thống được phổ biến đến tận mỗi đảng viên trước khi thực hiện giảm tô giảm tức. Và họ tin theo lời Đảng dạy: Ta chỉ có thể trông cậy vào những nông dân bần cùng, bị địa chủ bóc lột đến xương tủy, chỉ có họ mới là chỗ dựa vững chắc và lâu dài của Đảng. Cứ như thể sự nghèo khổ, tự bản thân nó, đã là một phẩm chất cách mạng.

Vào thời kỳ ấy, tôi và thế hệ tôi không hiểu rằng Cải cách ruộng đất chỉ là cái vỏ ngoài cho một mưu đồ chính trị. Tất cả những khẩu hiệu ca ngợi nông dân: “nông dân là quân chủ lực”, “giải phóng nông dân”, “tiêu diệt cường hào ác bá, đánh đổ địa chủ, phú nông”; “ruộng đất về tay dân cày”, “nông dân vùng lên giành lấy chính quyền”…, chỉ nhằm để củng cố vị trí cai trị đất nước của Đảng. Đảng cần tiêu diệt những người đi tiên phong trong cuộc kháng chiến chống Pháp, là những người mang trong đầu tư tưởng bình đẳng được đề cao trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, vì thế họ không phải, và không thể, là những thần dân ngoan ngoãn. Cái mà Đảng cần là một lớp tay sai tuyệt đối trung thành, gọi dạ bảo vâng. Cái gọi là Cải cách ruộng đất hoàn toàn không có mục tiêu Cải cách ruộng đất. Không có, và không hề có, một cuộc điều tra nào về tình hình phân bổ ruộng đất trong xã hội, là điều tất yếu phải làm trước khi tiến hành Cải cách ruộng đất. Hơn nữa, mâu thuẫn ruộng đất hoàn toàn không phải là vấn đề nóng bỏng ở vùng giải phóng (vùng chính quyền kháng chiến) trong giai đoạn cả nước cần tập trung tinh thần và sức lực vào mục tiêu giành độc lập. Không phải vô lý mà trong những cuộc học tập trước và trong Cải cách ruộng đất các giảng viên nhấn mạnh nhiều lần lời dạy của Tổng Bí thư Trường Chinh: “Về thực chất, Cải cách ruộng đất là một cuộc đấu tranh chính trị”.

Đấu tố diễn ra liên miên, ngày một khốc liệt. Người dân cày dung dị hôm trước, được Đảng phóng tay phát động, vụt trở thành hung tợn, mặt bừng bừng khoái trá trong niềm vui hành hạ đồng loại. Tôi kinh hoàng nhìn cảnh tượng không hiểu nổi: Nườm nượp lướt qua mắt tôi từng bày đàn người bị kích thích bởi mùi máu, hăm hở đi dưới lá cờ đỏ sao vàng, không phải để chiến đấu với quân xâm lược mà với chính đồng bào mình.

Tại xã Ngô Xá, làng Ngò, Thanh Hóa, nơi có dinh cơ gia đình cụ cử Nguyễn Thượng Hiền, người ta trói chặt hai tay rồi dong mẹ một người bạn tôi đi khắp làng chỉ vì bà trót dại nói điều gì đó mất lập trường hoặc không vừa lòng cán bộ giảm tô giảm tức. Tôi biết rõ bà là ai. Khi chiến tranh vừa bùng nổ, bà là hội trưởng hay hội phó Hội Liên hiệp Phụ nữ Thái Bình. Mất đất, bà mang con cái chạy vào Thanh Hóa theo chính phủ kháng chiến, làm nghề hàng xáo, buôn thúng bán mẹt. Chúng tôi nghe tiếng kêu khóc chạy tới thì thấy mấy anh du kích quen đang xềnh xệch kéo bà đi. Hai tay bị trói giơ lên trời, bà xiêu vẹo bước sau họ, kêu gào thảm thiết: “Ới cụ Hồ ơi, Cụ trông xuống mà xem người ta đối xử với con dân Cụ thế này đây!”.

Ở một xã khác, một người đàn bà bị trói vào hai cây nứa bắt chéo, bên dưới là một đống lửa. Con mẹ ni là phú nông phản động, ngoan cố lắm, những người bâu quanh nhao nhao nói thế. Người đàn bà quằn quại mãi, tới khi ngất đi mới được người ta hạ xuống.

Cha một người bạn khác của tôi, ông chỉ là một cán bộ quèn trong ngành giáo dục, nhưng hoạt động cách mạng từ trước năm 1945. Khi cuộc Giảm tô giảm tức bắt đầu, ông bị bắt vì tội là đảng viên Quốc dân Đảng. Ông thắt cổ tự tử, để lại bức thư tuyệt mệnh: “Oan cho tôi lắm, Cụ Hồ ơi. Tôi trung thành với Cụ, với Đảng. Tôi không phản bội. Hồ Chí Minh muôn năm!”.

Việt Nam Quốc dân Đảng, được thành lập từ năm 1925, trước Đảng Cộng sản 5 năm, cùng chung mục đích đánh Pháp giành độc lập, chưa từng có tranh chấp với Đảng Cộng sản về vai trò lãnh đạo cách mạng trước năm 1945, mặc dầu một bộ phận lưu vong của đảng này đã mắc sai lầm khi trở về nước đi chung với Hoa quân nhập Việt nhằm dựa vào thế lực của quân Tưởng chống Pháp – một sai lầm cố hữu của những người có xu hướng dựa dẫm vào ngoại bang để giành độc lập – đã gây ra những đụng độ với Việt Minh. Nhưng điều đó không hề có nghĩa là tất cả những đảng viên Quốc dân Đảng trên toàn quốc đã rời bỏ mục đích giành độc lập, không còn là những người yêu nước. Bằng chứng là họ vẫn tích cực tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Quốc dân Đảng được nêu lên như một mục tiêu trấn áp chính trong Cải cách ruộng đất, trong thực tế chỉ là cái cớ để quét sạch những người kháng chiến tiên phong, như tôi đã trình bày ở trên. Người ta vu cho bất cứ ai mà họ muốn giết là Quốc dân Đảng.

Trong một ngôi đình, tôi thấy người ta lấy gai bưởi cắm vào đầu ngón tay một cô gái. Có trời biết cô ta bị tội gì, có thể cô ta chỉ có một tội duy nhất là con địa chủ, cứ mỗi câu hỏi những kẻ tra tấn lại nhấn những cái gai sâu thêm một chút làm cho cô gái rú lên vì đau, quằn quại trong dây trói.

Một cụ già tóc bạc phơ bị tròng dây vào cổ, bị lôi xềnh xệch trên đường như một con chó. Lũ trẻ làng rùng rùng chạy theo sau. Chúng vỗ tay, chúng reo hò, chúng cười ngặt nghẽo. Tôi nhìn chúng, rùng mình – những đứa trẻ này chắc chắn sẽ lớn lên với trái tim không phải của giống người. Rồi đây, với tâm hồn chai sạn, làm sao chúng có thể sống chung với những anh em khác màu da và tiếng nói trong một thế giới đại đồng mà chủ nghĩa cộng sản hứa hẹn?

Tôi cảm thấy trong mình cục cựa một cảm giác bất bình, điềm báo trước sự thức tỉnh.Không phải ai cũng có một cảm nhận như thế trước những gì Đảng đang làm. Niềm tin ở Đảng ăn sâu trong lòng mỗi đảng viên cộng sản, đến nỗi vừa buông miệng khuyên tôi trốn, lúc chia tay anh Luật lại vớt vát: “Nói thì nói vậy thôi, chứ anh không thể nào tin được Đảng lại có thể nhẫn tâm bắt một lúc cả hai cha con một gia đình cách mạng kiên cường như gia đình chú. Mình không nên nghĩ quá ra như thế!”.